Phát Triển Nguồn Nhân Lực Y Tế Đáp Ứng Sự Nghiệp Y Tế Trên Địa Bàn Thành Phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực y tế TP.HCM đáp ứng nhu cầu sự nghiệp y tế. Giải pháp nâng cao chất lượng, số lượng nhân lực ngành y tế thành phố.

Chuyên ngành

Kinh tế Chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

225
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Nguồn Nhân Lực Y Tế TP

Nguồn nhân lực y tế (NNLYT) được coi là vô cùng cấp thiết đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, bao gồm cả Việt Nam. Việc khai thác và phát triển NNLYT tế là rất quan trọng để đạt được sự phát triển trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Ở Việt Nam, phát triển NNLYT được coi là nhân tố trung tâm và đóng vai trò quyết định đối với sự nghiệp chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Sau hơn 35 năm kể từ khi Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới, các cải cách ban đầu về kinh tế và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã giải phóng những tiềm lực to lớn của đất nước. Nhờ đó, đất nước đã vượt qua thời kỳ khủng hoảng KT – XH với lạm phát phi mã, đói nghèo và sự kém phát triển. Mặc dù điều kiện KT – XH của Việt Nam chưa đạt mức ngang bằng với nhiều quốc gia trong khu vực, nhưng chỉ số về sức khỏe và phát triển con người của Việt Nam đã và đang vượt nhiều nước có điều kiện KT – XH và đầu tư lớn hơn.

1.1. Tầm quan trọng của Nguồn nhân lực y tế TP.HCM

Nghị quyết lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) ngày 14 tháng 01 năm 1993 rõ ràng thể hiện quan điểm về phát triển y tế (PTYT), xác định sức khỏe là một tài nguyên quý giá của mỗi cá nhân, mỗi gia đình và xã hội. Sự chăm sóc sức khỏe được coi là trách nhiệm chung của cộng đồng và mỗi người dân, trong đó ngành YT đóng vai trò quan trọng. Dựa trên quan điểm này, Nhà nước đã ban hành Chiến lược bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

1.2. Vai trò của TP.HCM trong phát triển nhân lực y tế cả nước

Với vai trò là đầu tàu kinh tế, TP.HCM tăng trưởng nhanh và ổn định, so với cả nước GRDP bình quân đầu người TP gấp 2,4 lần so với cả nước và có tăng đều qua các năm. Thu nhập tăng cao, nhu cầu chăm sóc sức khỏe, khám, chữa bệnh cũng được người dân quan tâm nhiều hơn. Cụ thể, theo số liệu từ Sở Y tế tính đến cuối năm 2022 thì trên địa bàn TP có 117 bệnh viện, 6.497 phòng khám CK, đa khoa tư nhân với 59.464 cán bộ làm việc trong ngành YT, hàng năm đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho hơn 31 triệu lượt người.

II. Thách Thức Hạn Chế Phát Triển Nguồn Nhân Lực Y Tế 59 ký tự

So với nhu cầu thực tiễn trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì NNLYT trên địa bàn TP.HCM hiện nay vẫn thiếu về số lượng và còn hạn chế về chất lượng, cơ cấu NLYT phân bổ không đồng đều do đó vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của Nhân dân. Ngoài ra, trước áp lực dân số ngày càng tăng trên địa bàn TP, nhu cầu khám, chữa bệnh tăng cao của người dân trong cả nước. Bên cạnh đó, qua thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh COVID- 19 trong 2 năm 2020, 2021 đã khẳng định vai trò rất quan trọng của mạng lưới YT cơ sở nhưng chưa đảm bảo được yêu cầu đề ra khi quá trình phát triển NNLYT của TP đã bộc lộ một số yếu kém nhất định, bao gồm cơ cấu lao động chưa được hợp lý giữa các tuyến, hiệu quả chưa cao của chính sách hỗ trợ người lao động, sự thiếu hụt nhân lực dẫn đến áp lực và quá tải trong công việc.

2.1. Tình trạng thiếu hụt nhân lực y tế trong đại dịch COVID 19

Đặc biệt là thiếu hụt trầm trọng NNLYT trong đợt dịch buộc CP phải chỉ đạo Hà Nội, Quân đội và các tỉnh chi viện hơn 20.000 nhân viên YT để hỗ trợ TP.HCM trong công tác chống dịch COVID-19. Chính vì vậy việc nghiên cứu về phát triển NNLYT TP.HCM đáp ứng nhu cầu phát triển KT – XH với những thành quả đã đạt được, những yếu kém còn tồn tại, tìm ra những nguyên nhân từ bên trong ngành YT và từ bên ngoài để gợi ý các giải pháp, chính sách nhằm phát triển NNLYT trên địa bàn TP là rất cần thiết.

2.2. Cơ cấu lao động bất hợp lý và áp lực lên nguồn nhân lực y tế

Việc nghiên cứu về phát triển NNLYT TP.HCM đáp ứng nhu cầu phát triển KT – XH với những thành quả đã đạt được, những yếu kém còn tồn tại, tìm ra những nguyên nhân từ bên trong ngành YT và từ bên ngoài để gợi ý các giải pháp, chính sách nhằm phát triển NNLYT trên địa bàn TP là rất cần thiết. Đây cũng là lý do mà tác giả lựa chọn đề tài “Phát triển nguồn nhân lực y tế đáp ứng sự nghiệp y tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận án.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Phát Triển Nguồn Nhân Lực Y Tế 58 ký tự

Mục tiêu tổng quát của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn phát triển NNLYT đáp ứng sự nghiệp YT trên địa bàn TP.HCM; xác định phương hướng, giải pháp phát triển NNLYT trên địa bàn TP.HCM trong thời gian tới. Mục tiêu cụ thể: Một là, làm rõ cơ sở lý thuyết về phát triển nguồn nhân lực ngành YT và các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình phát triển NNLYT đáp ứng sự nghiệp YT. Hai là, phân tích thực trạng phát triển NNLYT ở TP.HCM trong giai đoạn năm 2010 - 2020, chỉ ra được những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế trong phát triển NNLYT đáp ứng sự nghiệp YT.

3.1. Phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực y tế TP.HCM

Ba là, đề xuất các giải pháp phát triển NNLYT TP.HCM đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp YT trên địa bàn TP. Câu hỏi nghiên cứu: Câu hỏi 1: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển NNLYT? Câu hỏi 2: Phát triển NNLYT bao gồm những nội dung nào? Câu hỏi 3: Thực trạng phát triển NNLYT TP.Hồ Chí Minh thời gian qua như thế nào? Những thành tựu? Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế?

3.2. Đề xuất giải pháp phát triển nhân lực y tế trong bối cảnh mới

Câu hỏi 4: Giải pháp nào để phát triển NNLYT TP. Hồ Chí Minh đáp ứng sự nghiệp YT trong bối cảnh mới hiện nay? Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là phát triển nguồn nhân lực ngành y tế TP.HCM đáp ứng sự nghiệp YT. Tập trung vào quy mô nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển NNLYT trên địa bàn TP.

IV. Nghiên Cứu Phạm Vi Phát Triển Nguồn Nhân Lực Y Tế TP

Phạm vi nội dung nghiên cứu của đề tài về phát triển NNLYT trên địa bàn TP.HCM chỉ tập trung trình bày, phân tích và đánh giá quy mô NNLYT; sự phân bổ NLYT; chất lượng NNLYT tại các bệnh viện; các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển NNLYT trên địa bàn TP. Trên cơ sở đó, đưa ra được những định hướng và các giải pháp phát triển NNLYT trên địa bàn TP.HCM đáp ứng yêu cầu sự nghiệp PTYT trong tiến trình phát triển TP.HCM trở thành một trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ có sức lan tỏa cao của cả nước và khu vực Đông Nam Á.

4.1. Tập trung vào quy mô và chất lượng Nguồn nhân lực y tế

Luận án nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực ngành y tế trên địa bàn TP.HCM, trong đó tập trung vào NNLYT trực tiếp tham gia công tác khám, chữa bệnh, dự phòng và chăm sóc sức khỏe. Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng phát triển NNLYT TP.HCM giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020, định hướng đến năm 2025, tầm nhìn năm 2030.

4.2. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nhân lực y tế

Ngoài ra, khi sử dụng phươ...

13/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI Các công trình nghiên cứu hay báo cáo liên quan đến tình hình nguồn nhân lực y tế cùng các đề xuất, giải pháp nhằm phát triển NNLYT bao gồm các công trình trong và ngoài nước. Các công trình này có ý nghĩa làm cơ sở so sánh với tình hình phát triển NNLYT ở TP.HCM và phối hợp với các chính sách, chiến lược PTYT cũng như NNLYT mà CP và Ủy ban nhân dân (UBND) TP.HCM đề ra để xây dựng một giải pháp có tính toàn diện cho việc phát triển NNLYT ở TP. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới về phát triển nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực y tế Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu đề cập đến khái niệm, vai trò, đặc điểm, phân loại, đối tượng của nguồn nhân lực (NNL) và nguồn nhân lực trong lĩnh vực y tế.

Có thể đề cập tới một số khía cạnh nghiên cứu như sau: Trong những năm 1950, khi nghiên cứu về các yếu tố chính của quá trình sản xuất thì các nhà khoa học đã chỉ ra các yếu tố chính là vốn, lao động, đất đai và quản lý (Mincer 1962; Becker 1993). Tuy nhiên, vào đầu những năm 1960, các nghiên cứu về thực tế tăng trưởng kinh tế gặp khó khăn trong việc giải thích sự tăng trưởng của nền kinh tế Hoa Kỳ theo các yếu tố sản xuất truyền thống này (Denison 1962; Krueger 1968; Schultz 1961. Có một khoảng trống trong khi nghiên cứu tăng trưởng, khoảng trống mà các nhà nghiên cứu xác định được gọi là “yếu tố còn lại” đó là “vốn con người” hay còn gọi là NNL (Schultz 1961). Do đó, thuật ngữ “vốn” đã được mở rộng khi các nhà nghiên cứu về kinh tế ở thế kỷ XXI và nó bao gồm các thuật ngữ như 'vốn tài chính, vốn tổ chức, vốn trí tuệ, vốn con người, vốn cơ cấu, vốn quan hệ, vốn khách hàng, vốn xã hội, vốn đổi mới và vốn quá trình (Edvinsson và Malone 1997: 52).

Nguyên tắc cơ bản làm nền tảng cho lý thuyết về NNL là niềm tin rằng năng lực học tập của mọi người có giá trị tương đương với các nguồn lực khác liên quan đến sản xuất hàng hóa và dịch vụ (Lucas 1988, 1990). Khi nguồn lực được sử dụng một cách hiệu quả, kết quả sẽ mang lại lợi nhuận cho cá nhân, tổ chức và xã hội nói chung (Schultz 1961). Do đó, lý thuyết NNL tìm cách giải thích lợi ích của giáo dục và đào tạo (GD & ĐT) như một hình thức 12 đầu tư vào NNL (Aliaga 2001), và mệnh đề chính là con người được coi là một dạng vốn để phát triển (Aliaga 2001; Becker 1993, Benhabib và Spiegel 1994; Engelbrecht 2003; Hendricks 2002). Từ góc độ này, GD và đi học được coi là những khoản đầu tư có chủ đích nhằm chuẩn bị lực lượng lao động và tăng năng suất của các cá nhân và tổ chức, cũng như khuyến khích tăng trưởng và phát triển ở cấp độ quốc tế.

Trên phạm vi toàn cầu, quản lý NNL được coi là một yếu tố chiến lược trong quản lý chăm sóc sức khỏe (WHO, 2002). Y tế chiếm một vị trí quan trọng trong tài chính, nhìn chung từ 65 đến 80% tiền lương của nhân viên sẽ được chi thường xuyên cho chăm sóc sức khỏe (Martineau 1997). Những chi phí này có mối liên hệ chặt chẽ với việc sử dụng NNL như thế nào và hiệu quả như thế nào (Mercer et al. Ngày càng có nhiều sự đồng thuận rằng NNL là yếu tố quyết định chính đến hiệu quả hoạt động của các tổ chức và hệ thống chăm sóc sức khỏe, ví dụ như trong cải cách ngành y tế (Martineau & Buchan 2000).

Năm 1995, Đại hội đồng Y tế Thế giới thúc giục WHO sử dụng tốt hơn các nguồn lực, cụ thể hơn là NNL (WHO 1995). Báo cáo Y tế Thế giới năm 2000 cho biết rằng NNL là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố đầu vào của HTYT (WHO 2000). Việc WHO thành lập Nhóm Chiến lược Lực lượng NLYT Toàn cầu vào năm 2000, tập hợp các bên liên quan để hỗ trợ công việc của WHO trong việc cải thiện các dịch vụ y tế (DVYT) thông qua việc tăng cường hiệu suất của lực lượng Y tế, là một dấu hiệu khác cho thấy vai trò của HR ngày càng được công nhận (WHO, 2001b). Nhiều nhà quản lý cho rằng NNL là điểm nghẽn chính trong nỗ lực mở rộng quy mô can thiệp của HTYT đối với các vấn đề sức khỏe lớn, chẳng hạn như HIV / thuốc hỗ trợ, sức khỏe bà mẹ và bệnh sốt rét (Mercer et al.

2002, Van Lerberghe et al. Năng lực thực hiện không đủ cũng được coi là cản trở đối với các sáng kiến quốc tế như Liên minh toàn cầu về vắc xin và tiêm chủng (GAVI) hay Quỹ toàn cầu phòng chống AIDS, bệnh lao và bệnh sốt rét (Brugha et al. Ngày nay không còn chỉ chú trọng vào việc tối ưu hóa số lượng, kỹ năng và phân phối nhân lực, các cuộc tranh luận công / tư, phân cấp và cải cách dịch vụ công và quản lý hiệu suất để quản lý NNL đã trở thành mối quan tâm của các quốc giá trên thế giới (Van Lerberghe & Ferrinho 2002). Trong báo cáo thường niên của Tổ chức Y tế Thế Giới năm 2006 - “World Health Report 2006 – Working Together for Health” - với chuyên đề về lao động y tế, trong đó 13 có đánh giá thực trạng NLYT theo các nhóm nước trên thế giới (World Health Organization, 2006).

Báo cáo cho thấy sự khác biệt của NNL y tế tại các vùng khác nhau, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cả vĩ mô lẫn vi mô để thúc đẩy phát triển NNL quan trọng này, nhằm đạt đến mục tiêu là mọi người ở mọi nơi trên thế giới có thể tiếp cận lực lượng y tế năng động, có kiến thức chuyên môn. Nội dung cũng làm cơ sở cho việc xây dựng một giải pháp mang tính toàn diện của luận án nhằm phát triển NNL y tế một cách đầy đủ nhất. WHO (2016) đã chỉ ra rằng việc xây dựng một chiến lược PTYT dựa trên ứng dụng của khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng cuộc sống, sức khỏe và kéo dài tuổi thọ cho con người là vấn đề hết sức được quan tâm. Ngoài ra, để kiểm soát được dịch bệnh trên toàn cầu thì cần phải có chiến lược toàn diện trong việc phát triển NNL y tế trong mỗi một quốc gia (Marchal B, Kegels, 2003).

Để thực hiện chiến lược này một cách toàn diện thì cần phải xây dựng được các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng, hệ thống đào tạo cũng như những chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ trực tiếp làm việc (Bs, Đdưỡng), đội ngũ quản lý và các cơ sở y tế hạ tầng để cải thiện được chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người bệnh (World Federation for Medical Education, 2003). Ở góc độ nghiên cứu về cải cách HTYT, Javier Martinez và Tim Martineau (2002) cho rằng để cải cách HTYT một cách toàn diện ở các nước đang phát triển thì cần lưu ý khu vực công, đây chính là khu vực thiếu kế hoạch quản lý NNL trong dài hạn dẫn tới sự chậm phát triển trong khu vực này. Kanchanachitra (2011) nhận thấy sự thiếu thốn và phân bổ kém của NLYT tại vùng Đông Nam Á, nhất là tại các vùng nông thôn trong bối cảnh có sự giao thương quốc tế trong DVYT (Kanchanachitra et al. Nếu xét chung cả vùng thì không thấy có sự thiếu nhân lực, nhưng xét trên từng nước thì có sự khác biệt như tại 5 nước có NLYT chung dưới mức trung bình của cả khu vực trong đó có Indonesia, Lào, Campuchia, Myanmar và Việt Nam.

Trong khi Singapore, Malaysia và Thái Lan đã có đủ NNLYT phục vụ nhu cầu trong nước mà còn đón nhận các bệnh nhân nước ngoài và đã mang lại thu nhập GDP. Philippines và Indonesia là những quốc gia xuất khẩu Bs và Đdưỡng đứng đầu của khu vực. NNLYT khu vực sẽ còn đối diện nhiều thách thức và phải có nhiều sự điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu. Ở góc độ nghiên cứu về tác động của quản lý trong việc triển khai các chính sách phát triển NNL, Marjolein Dieleman, Daniel MP Shaw và Prisca Zwanikken 14 (2011) phân tích những kinh nghiệm đối với những ảnh hưởng từ quản lý trong việc phát triển và triển khai những chính sách về NNLYT.

Phân tích dựa vào 4 mức độ để đánh giá một chính sách là hiệu quả, công bằng, tham gia và giám sát. Với mỗi mức độ trên đều có nhiều câu hỏi được đặt ra và kết quả cho thấy làm thế nào trách nhiệm trong quản lý lại có ảnh hưởng đến việc triển khai các chính sách về NLYT (Marjolein Dieleman, et al. Nghiên cứu khác của Williams Jack và Maureen Lewis (2009) trình bày trong báo cáo “Y tế và Tăng trưởng” của Ủy ban về Tăng trưởng và Phát triển kinh tế thuộc Ngân hàng Thế giới cho thấy mối tương quan và những liên kết tiềm ẩn giữa y tế với tăng trưởng kinh tế ở cả mức độ vĩ mô lẫn vi mô. Công trình cũng chứng minh cho thấy việc đầu tư cho y tế sẽ giúp tăng cường sức khỏe thông qua việc nâng cao chất lượng đào tạo.

Kinh nghiệm ở nhiều nước đang phát triển cho thấy mấu chốt của vấn đề là đầu tư y tế thông qua đào tạo sẽ mang lại lợi ích về cả kinh tế lẫn phúc lợi cho cộng đồng (William Jack, Maureen Lewis, 2009). Đóng góp của công trình này cho luận án là xây dựng khung phân tích về lý thuyết cho thấy những yếu tố vĩ mô và vi mô có ảnh hưởng tương quan đến tăng trưởng kinh tế với sự tác động qua lại với các yếu tố về y tế. Như vậy, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về việc thúc đẩy phát triển NNL tại các tổ chức y tế, bệnh viện. Dưới đây là bảng tóm tắt những nghiên cứu tiêu biểu về quản trị NNLYT trong những năm gần đây: Tác giả (năm) Mục đích nghiên cứu Kết quả Martineau, Tim and Mặc dù những cải cách Cải cách ngành y tế thường tập trung Buchan, James trong lĩnh vực y tế gần vào những thay đổi về tài chính hoặc cơ (2000) đây đã trở nên phổ biến cấu tổ chức, nhưng lại bỏ qua một trên toàn thế giới, nhưng nguồn lực quan trọng - đội ngũ nhân thành công của chúng, vì viên.

Điều này có thể dẫn đến việc nhân nhiều lý do, đã bị xáo viên có kỹ năng không phù hợp cho các trộn. Bài viết nhằm kiểm nhiệm vụ mới, nhân viên kém năng tra và giải thích tầm quan động, hoặc thậm chí phản đối nghiêm trọng của NNL (HR) đối trọng các cải cách.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu "Phát triển Nguồn Nhân Lực Y Tế TP.HCM: Nghiên Cứu và Giải Pháp" tập trung phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế tại TP.HCM. Tài liệu này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản lý y tế, các cơ sở đào tạo y khoa và những người quan tâm đến sự phát triển của ngành y tế thành phố. Nó cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thách thức hiện tại và gợi ý các hướng đi cụ thể để cải thiện năng lực và số lượng đội ngũ y tế, đảm bảo cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn cho người dân.

Nếu bạn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung, bạn có thể tìm hiểu thêm về các giải pháp trong lĩnh vực khác. Ví dụ, luận văn "Some solutions to improve the quality of human resources at in vnpt quảng ninh 2021 2025 period một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại vnpt quảng ninh giai đoạn 2021 2025" chia sẻ kinh nghiệm từ VNPT Quảng Ninh. Hoặc, bạn có thể xem xét các yếu tố tạo động lực cho người lao động, một khía cạnh quan trọng trong phát triển nhân lực, thông qua tài liệu "Tạo động lực cho người lao động tại trung tâm kinh doanh vnpt hải phòng". Cuối cùng, để có một cái nhìn toàn diện hơn về quản lý nhân lực, hãy tham khảo "Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhân lực tại công ty cổ phần firegroup", giúp bạn có thêm nhiều góc nhìn và ý tưởng áp dụng cho lĩnh vực y tế.