CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm, đặc điểm và vai trò của tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp 1. Khái niệm động lực và tạo động lực Có rất nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về động lực và động lực của người lao động. Cụ thể: Theo Richard M.Stee và Lyman W.Porter (1983), động lực chính là “sự thôi thúc, sự kiên định và bền bỉ trong quá trình làm việc”.
Theo Bolton Gary (2000), động lực được nghĩa như một khái niệm để “mô tả các yếu tố được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu". Theo Mitchell và Daniels (2003), động lực là “mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của minh”. Theo Nguyễn Hữu Lam (2007), động lực của người lao động là “những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sang nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”.
Theo Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012), động lực của người lao động là “những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động”. Từ tổng hợp các định nghĩa trên, tác giả thống nhất trong khuôn khổ của luận văn này: “Động lực được hiểu là tất cả các yếu tố có tác dụng thúc đẩy con người nâng cao mọi nỗ lực của mình nhằm đạt được mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó.” Theo Vũ Thị Uyên (2008), tạo động lực làm việc là “sự vận dụng hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới nhân viên nhằm làm cho họ có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn đóng góp cho tổ chức”. 7 Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thủy Hương (2009), tạo động lực được hiểu là “hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động tới NLĐ nhằm làm cho NLĐ có động lực trong lao động”.
Tạo động lực là quá trình làm nảy sinh động lực trong mỗi cá nhân người lao động. Do đó, tạo động lực là sự vận dụng các chính sách, biện pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong quá trình làm việc, giúp thúc đẩy sự hài lòng với công việc, mong muốn và nỗ lực làm việc hơn nữa để đóng góp cho tổ chức. Tạo động lực cho người lao động là quá trình phức tạp. Xét theo góc độ quản lý, tạo động lực là những hành động của nhà quản lý làm nảy sinh động lực trong cá nhân người lao động.
Có hai loại tác động đó là: (i) Cưỡng bức người lao động thông qua các biện pháp siêu kinh tế và cưỡng bức kinh tế. Các biện pháp này diễn ra trong các chế độ tư hữu, rõ nhất là thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, loại tác động này không được áp dụng rộng rãi tới ngày nay. (ii) Kích thích người lao động thông qua các biện pháp khuyến khích vật chất vả tinh thần đối với người lao động để tạo ra động lực làm việc cho họ.
Loại này đang được các doanh nghiệp, tổ chức áp dụng rộng rãi. Tóm lại, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả thống nhất tiếp cận khái niệm: “Tạo động lực là hệ thống các phương pháp, chính sách, thủ thuật của nhà quản lý tác động đến người lao động nhằm thúc đẩy cho người lao động có động lực làm việc”. Ngoài ra, khái niệm người lao động được quy định trong Bộ Luật Lao động 2019 như sau: “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động”. Theo đó, Bộ Luật này cũng quy định độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là từ 15 tuổi trở lên.
Như vậy, có thể thống nhất tiếp cận khái niệm sau: “Tạo động lực cho người lao động là hệ thống các phương pháp, chính sách, thủ thuật của các nhà quản lý đại diện cho người sử dụng lao động tác động đến người lao động nhằm thúc đẩy cho người lao động có động lực làm việc”. Đặc điểm của công tác tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp Thứ nhất, tạo động lực cho người lao động phụ thuộc vào nhu cầu của người lao động. Mỗi đối tượng lao động trong các doanh nghiệp khác nhau đều có nhu cầu khác nhau giữa các nhóm công việc, nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn. Do đó, để thỏa 8 mãn nhu cầu và tạo động lực cho người lao động thì các doanh nghiệp phải xác định được nhu cầu, thấu hiểu người lao động, từ đó các biện pháp tạo động lực mới có hiệu quả về chi phí, tinh thần.
Thứ hai, tạo động lực cho người lao động phụ thuộc lớn vào quan điểm của lãnh đạo tổ chức. Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong một tổ chức hay trong phạm vi xã hội đóng vai trò cự kỳ quan trọng trong thực hiện đường lối, nhiệm vụ đặt ra, trong nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức. Nếu các lãnh đạo quan tâm tới đời sống của cán bộ công nhân viên thì các hành động tạo động lực sẽ đước chú trọng và ngược lại. Thứ ba, tạo động lực cho người lao động là công cụ để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cao, việc thu hút được nhân tài và có nguồn lực chất lượng cao sẽ góp phần giúp cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh so với các đối thủ. Đặc biệt, trong các lĩnh vực hoạt động kinh doanh có giá trị gia tăng chủ yếu nằm ở giá trị lao động thì các công cụ tạo động lực cho người lao động càng quan trọng và trở thành những mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý. Thứ tư, tạo động lực cho người lao động phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật. Các công cụ, chính sách tạo động lực cho người lao động tại bất cứ quốc gia nào đều phải tuân thủ theo luật pháp được quy định tại quốc gia đó bởi luật pháp được tạo ra để đảm bảo công bằng xã hội, tránh tình trạng các chính sách tạo động lực cho người lao động dưới các hình thức bất hợp pháp, gây thiệt hại cho đất nước.
Vai trò của công tác tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp Đối với người lao động: Con người luôn có những nhu cầu cần được thỏa mãn về cả hai mặt vật chất và tinh thần. Khi người lao động cảm thấy những nhu cầ của mình được đáp ứng sẽ tạo tâm lý tốt thúc đẩy người lao động làm việc hăng say hơn. Đối với cá nhân người lao động không có động lực lao động thì hoạt động lao động khó có thể đạt được mục tiêu của nó bởi vì khi đó họ chỉ lao động hoàn thành công việc được giao mà không có được sự sáng tạo hay cố gắng phấn đấu trong lao động, họ chỉ coi công việc đang làm như một nghĩa vụ phai thực hiện theo hợp đồng lao động mà thôi. Do đó nhà quản lý cần phải tạo được động lực thúc đẩy tính sáng tạo và năng lực làm việc của nhân viên.
Người lao động chỉ hoạt động tích cực khi mà họ được thỏa mãn một cách tương đối những nhu cầu của bản thân. Điều này thể hiện ở lợi ích mà họ được hưởng. Khi mà 9 người lao động cảm thấy lợi ích mà họ nhận được không tương xứng với những gì họ bỏ ra họ cảm thấy không thỏa mãn được những nhu cầu của mình thì sẽ gây ra cảm giác chán nản làm việc không tập trung cao. Lợi ích là phương tiện để thỏa mãn nhu cầu nên lợi ích mà người lao động nhân được phải tương xứng với những gì họ cống hiến thì mới tạo ra động lực cho họ làm việc.
Động lực lao động còn giúp cho người lao động có thể tự hoàn thiện mình. Khi có được động lực trong lao động người lao động có được nỗ lực lớn hơn để lao động học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình. Đối với tổ chức: Việc tạo động lực cho người lao động thành công có thể giúp doanh nghiệp tối ưu được các chi phí, thúc đẩy doanh thu, gia tăng năng suất lao động và cải thiện năng lực cạnh tranh trên thị trường. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cao, việc thu hút được nhân tài và có nguồn lực chất lượng cao sẽ góp phần giúp cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh so với các đối thủ.
Đặc biệt, trong các lĩnh vực hoạt động kinh doanh có giá trị gia tăng chủ yếu nằm ở giá trị lao động thì các công cụ tạo động lực cho người lao động càng quan trọng và trở thành những mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý. Đối với xã hội: Thông qua việc tạo động lực cho người lao động, năng suất lao động gia tăng sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản phẩm – dịch vụ được nâng cao tính cạnh tranh trên bình diện quốc tế. Từ đó, thúc đẩy và hội nhập thương mại, kinh tế quốc tế. Thêm vào đó, việc nâng cao chất lượng lao động thông qua công tác tạo động lực cũng góp phần thúc đẩy văn hóa làm việc chăm chỉ, tạo ra nét đẹp về con người tại đất nước đó.
Các học thuyết về tạo động lực cho người lao động 1. Học thuyết về nhu cầu của Maslow Một trong những lý thuyết về động cơ thúc đẩy được nhắc đến nhiều nhất là học thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow (1966) đưa ra. Maslow cho rằng loài người mong muốn được thoả mãn một số nhu cầu nhất định và đã nhìn nhận nhu cầu đó theo hình thái phân cấp, sắp xếp theo thứ tự tăng dần từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất.