Chương 1 : Cơ sở lý luận về thúc đầy động cơ làm việc cho người lao động Chương 2 : Tình hình hoạt động kinh doanh và thực trạng công tác thúc day động cơ làm việc tại Techeombank Đà Nẵng Chương 3 : Giải pháp thúc đẩy động cơ làm việc tại Techcombank Đà Nẵng CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE THUC DAY BONG CO LAM VIEC CHO NGUOI LAO DONG 1. Tổng quan về thúc đây động cơ làm việc trong Ngân hàng Thương mại 1. Những khái niệm cơ bản về thúc đây động cơ làm việc Bàn về thúc đây động cơ làm việc có những thuật ngữ xuất hiện thường xuyên như sau : 1. Nhu cầu Nhu cầu là những đòi hỏi của con người muốn có điều kiện nhất định để sống và phát triển, hay nhu cầu là tính chất của cơ thẻ sống biểu hiện trạng thai thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sóng.
Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thôn không thoải mái về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng nó. Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại, phát triển của con người, cộng đồng và tập thé xa hội. Hình thức biểu hiện nhất định của nhu cầu được cụ thẻ hóa thành đối tượng nhất định. Đối tượng của như.
cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến làm thỏa mãn nhu cầu đó. Một đối tượng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu cầu có thể được thỏa mãn bởi một số đối tượng với mức độ thỏa mãn khác nhau. [19] Việc không ngừng thỏa mãn những nhu cầu của con người là một trong những nhân tố quan trọng để làm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản xuất. Hiểu được nhu cầu của người lao động là nhân tố quan trọng giúp cho doanh nghiệp có chính sách gắn kết chặt chẽ hơn với mong muốn, tâm tư của người lao động.
Một khi nhu cầu của người lao động được thoả mãn thì mức độ hài lòng của họ về công việc và tổ chức của mình sẽ tăng lên, và nhờ vậy họ sẽ gắn kết lâu dài hơn với doanh nghiệp Nhu cầu của con người theo nhà nghiên cứu về tâm lý Abraham Maslow có thể diễn tả dưới dạng tầm quan trọng tương đối của các loại nhu cầu khác nhau, từ những nhu cầu sơ đẳng, bậc thấp đến những nhu cầu bậc cao đối với mỗi cá nhân trong hoạt động đời thường cũng như trong công việc. Có nhiều cách phân loại về nhu cầu. Căn cứ vào tính chất ta có nhu cầu tự nhiên và nhu cầu xã hội; Căn cứ theo đối tượng thỏa mãn nhu cầu ta có nhu cầu vật chất và nhu cầu tỉnh thần; Căn cứ vào mức độ, khả năng thỏa mãn thì nhu cầu bao gồm : nhu cầu bậc thấp (gọi là nhu cầu sinh lý cơ thẻ), nhu cầu bậc trung là nhu cầu vận động và nhu cầu bậc cao nhất (gọi là nhu cầu sáng tạo). Nhu cầu vận động và nhu cầu sáng tạo là hai hệ thống nhu cầu khó thỏa mãn hơn, song nếu biết định hướng thì có thể tạo ra động cơ mạnh mẽ thúc đây người tham gia lao động và sáng tạo ra ngày càng nhiều giá trị cho tỏ chức.
Nhìn chung, trong ba cách phân loại trên thì mỗi phương pháp phân loại có ưu và khuyết điểm riêng liên quan đến nhu cầu của người lao động. Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ mang tính tương đối, trong thực tế chúng lồng ghép, đan xen vào nhau, khó phân tách được rõ ràng. Cuộc sống càng phát triển, nhu cầu của con người càng cao. Khi các nhu cầu bậc thấp đã được đáp ứng một cách tương đối đầy đủ, người lao động sẽ hướng đến những nhu cầu bậc cao hơn.
Thông thường, người lao động với khả năng làm việc tốt, trình độ cao thường đưa ra những điều kiện làm việc cao hơn so với lao động cơ bắp thuần túy. Đặc biệt, các nhân tài sẽ hướng đến việc thỏa mãn các nhu cầu bậc cao. Đối với họ, nơi làm việc không chỉ đơn thuần là nơi để kiếm sống, để có các hoạt động xã hội, mà điều quan trọng hơn cả là nơi để họ phát huy năng lực vốn có để được thể hiện mình, và cao hơn nữa, là nơi mà họ có thé phát huy hết những khả năng tiềm tàng, tối đa hóa sự sáng tạo. để vượt lên chính khả năng sẵn có của bản thân.
Lợi ích Lợi ích là mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện cụ thể. Lợi ích lao động được biểu hiện là lợi ích kinh tế trong mối quan hệ giữa những người lao động với nhau, giữa người sử dụng lao động và người lao động. [20] Tương ứng với nhu cầu vật chất và nhu cầu tỉnh thần có lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần. Giữa hai lợi ích này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Sự thoả mãn lợi ích vật chất dễ hơn sự thoả mãn lợi ích tỉnh thần. Thông thường, sự thoả mãn về lợi ích vật chất sẽ là tiền đề làm nảy sinh lợi ích về tỉnh thần. Tương ứng với nhu cầu cá nhân và nhu cầu xã hội có lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Lợi ích cá nhân là động cơ trực tiếp mạnh mẽ nhất và thông qua lợi ích cá nhân con người đạt được lợi ích xã hội(tập thể).
Lợi ích cá nhân gắn liền với sự thoả mãn nhu cầu cá nhân của bản thân người lao động và gia đình họ, lợi ích xã hội gắn liền với nhu cầu xã hội. Lợi ích cá nhân có tác động trực tiếp va tao ra su quan tâm nhiều hơn đối với người lao động, vì lợi ích cá nhân là biểu hiện cụ thể của sự đáp ứng nhu cầu cá nhân, là yếu tố thúc đây động cơ làm việc. Mức độ thoả mãn lợi ích càng lớn sẽ thúc đây động cơ làm việc càng nhiều. Động cơ Động cơ là mục tiêu chủ quan của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đặt ra.
Động cơ lao động biểu thị thái độ chủ quan của người lao động đối với hành động của mình, nó phản ánh mục tiêu đặt ra một cách có ý thức, nó xác định và giải thích cho hành vĩ. Động cơ ám chỉ những nỗ lực [3] cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người, có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo. đuổi một cách thức hành động đã xác định. Để thỏa mãn được nhu cầu, con người cần tham gia vao qua trình lao động sản xuất.
Chính vì vậy, nhu cầu của con người tạo ra động cơ thôi thúc họ làm việc và thỏa mãn nhu cầu của mình đồng thời tạo ra giá trị cho tổ chức. Trong quá trình quản trị, người đứng đầu tổ chức cần phải nắm bắt được động cơ làm việc của người lao động để nhận ra và tìm biện pháp kích thích cho người lao động luôn có được động cơ làm việc tốt, phát huy hết khả năng đẻ tăng năng suất lao động nhằm đạt được mục tiêu chung của tô chức, đồng thời, giúp từng cá nhân đạt được mục tiêu riêng của mình. Những cuộc nghiên cứu gan đây cho thay áp dụng biện pháp thúc đây động cơ làm việc của người lao động hiệu quả sẽ luôn đi đôi với kết quả cao trong thực hiện công việc và mang lại nhiều lợi nhuận cho. Công việc của các nhà quản trị là tìm ra phương án tối ưu trong nghệ thuật kết hợp giữa việc thúc đây động cơ làm việc và các phần thưởng nhằm thỏa mãn nhu cầu của người lao động để hướng đến mục tiêu của tổ chức được hoàn thành với hiệu quả cao nhất Vậy động cơ là gì? Theo J.Piaget: Động cơ là tất cả các yếu tố thúc đây cá thể hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó.
Động cơ được hiểu là sự sẵn sang, quyét tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao dé đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để thoả mãn được các nhu cầu cá nhân. Động cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống. Động cơ có tác dụng chỉ phối thúc đây người ta suy nghĩ và hành động. Các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau, và trong các tình huống khác nhau động cơ nói chung là khác nhau.
Mức độ thúc đây của động cơ cho các cá nhân sẽ khác nhau cũng như trong mỗi cá nhân ở các tình huống khác nhau. [24] Có nhiều cách phân loại động cơ. Tuỳ thuộc vào việc xác định mục đích hành động, động cơ lao động có hai dạng: động cơ cảm tính và động cơ lý tính. Động cơ cảm tính gắn liền với trạng thái hứng thú lao động, còn động cơ lý tính là biểu hiện của sự nhận thức rõ ràng mục tiêu công việc cụ thể, nhất định.
Trong thực tế, hai dạng động cơ này gắn liền với nhau và phản ánh qua thái độ của con người đối với hoạt động của mình. Thúc đẩy động cơ làm việc Thúc đây động cơ làm việc là hành động có ý thức hay vô thức khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt được một mục tiêu mong đợi [25], là tác động vào sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Gần đây, khái niệm này đã được các nhà khoa học xã hội sử dụng và mở rộng. Theo họ, thúc đây động cơ làm việc là một yếu tố hoặc quá trình thúc đây một cá nhân hoặc một tập hợp cá nhân hành động.
Vậy thúc đây động cơ làm việc là gì? Nhà nghiên cứu Bolton cho rằng thúc day động cơ làm việc là một khái niệm dé mô tả các yếu tố tác động làm các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu. Thúc đây động cơ làm việc là tác động thúc đây con người hoạt động một cách tích cực, có năng suất, trách nhiệm và hiệu quả cao nhất với tiềm năng của họ. Chính những lợi ích to lớn thông qua việc thúc đây động cơ làm việc cho người lao động gián tiếp mang lại hiệu quả cao cho hoạt động của tổ chức, mà các 10 nhà quản trị hiện đại luôn coi đây là chính sách quan trong và cần thiết, có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp, của tổ chức Thúc đây động cơ làm việc bao gồm hai loại đó là thúc đây động cơ bên trong và thúc đây động cơ bên ngoài.