CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Các nghiên cứu về tạo động lực làm việc trên thế giới đã chỉ ra động lực làm việc có vai trò lớn đối với hiệu quả của người lao động (Kuvaas và Dysik, 2009; Puspitasari và Adam, 2019; Puspitasari và cộng sự, 2021). Ngay cả khi môi trường làm việc có một sự thay đổi lớn, ví dụ khi đại dịch Covid- 19 bùng phát, động lực làm việc vẫn là nhân tố tác động lớn đến hiệu suất lao động (Tovmasyan và Minasyan, 2020). Tuy nhiên, các học giả dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau đã đưa ra những nhận định và quan điểm khác nhau về tạo động lực lao động theo cách tiếp cận và cách nhìn của họ.
Buelens & Van den Broeck (2007) đã triển khai nghiên cứu “Phân tích sự khác biệt trong động lực làm việc giữa những tổ chức ở khu vực công và khu vực tư”. Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra sự khác biệt về động lực làm việc của người lao động ở khu vực công so với khu vực tư nhân. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ cuộc điều tra gồm 3214 nhân viên ở khu vực tư, và 409 nhân viên làm việc ở khu vực công tại Vương quốc Bỉ. Nghiên cứu này còn chỉ ra sự khác biệt trong động lực làm việc giữa phụ nữ và nam giới (phụ nữ làm việc ở văn phòng ít giờ hơn và dành nhiều thời gian hơn cho các công việc gia đình.
Thông thường, phụ nữ có ít thời gian để thư giãn, nghỉ ngơi hơn đàn ông. Động lực làm việc của phụ nữ thường được thúc đẩy bởi tiền lương và các mối quan hệ tốt đẹp trong tổ chức). Bên cạnh đó, kết quả phân tích còn cho thấy người lao động lớn tuổi ít có xu hướng rời bỏ tổ chức. Họ muốn được làm việc trong 1 môi trường có nhiều sự cảm thông, hỗ trợ, và ít được thúc đẩy bởi nhân tố tiền lương.
Hơn nữa, cấp bậc quản lý được xem 5 là nhân tố đặc biệt quan trọng trong việc giải thích số giờ làm việc và sự cam kết đối với công việc. Kuvaas & Dysik (2009) đã nghiên cứu khám phá các mối quan hệ thay thế giữa đầu tư nhận thức vào sự phát triển của nhân viên, động lực nội tại và các khía cạnh khác nhau của hiệu suất công việc. Ba cuộc khảo sát cắt ngang trên tổng số 826 người trả lời từ các tổ chức ở Na Uy cho thấy mối quan hệ giữa đầu tư nhận thức vào sự phát triển của nhân viên và nỗ lực làm việc là trung gian của động lực nội tại. Ngoài ra, động lực nội tại được tìm thấy để điều chỉnh mối quan hệ giữa đầu tư nhận thức vào sự phát triển của nhân viên và hành vi công dân của tổ chức.
Hình thức điều độ cho thấy mối quan hệ tích cực chỉ dành cho những nhân viên có mức động lực nội tại cao. Tovmasyan và Minasyan (2020) đã nghiên cứu “Tác động của động lực đến hiệu quả công việc cho cả người sử dụng lao động và người lao động cũng trong đại dịch COVID-19” mục tiêu chính của nghiên cứu là phân tích tác động của động lực đến hiệu quả công việc đối với cả người lao động và người sử dụng lao động trong đại dịch COVID-19. Hệ thống hóa các nguồn tài liệu về động lực chỉ ra rằng có các yếu tố khác nhau của động lực. Một số người được thúc đẩy bởi các yếu tố nội tại, trong khi những người khác lại bởi yếu tố bên ngoài.
Saragih và cộng sự (2021) nghiên cứu sự thành công của ngành sản xuất trở thành một vấn đề đối với các công ty sản xuất liên quan đến việc làm thế nào để duy trì hoạt động của tổ chức. Thiết kế nghiên cứu được sử dụng là nghiên cứu mô tả và nghiên cứu quan hệ nhân quả. Sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản, mẫu của nghiên cứu này là 127 sản phẩm của nhân viên trong một công ty sản xuất trong ngành công nghiệp thực phẩm ở Indonesia. Dữ liệu cho nghiên cứu này lấy từ nguồn chính bằng cách phân phát bảng câu hỏi.
Dữ liệu được phân tích bằng cách sử dụng hồi quy. Các 6 phát hiện cho thấy rằng phong cách lãnh đạo không có tác động đến hiệu suất của nhân viên và chỉ có lương thưởng và môi trường làm việc ảnh hưởng đến hiệu suất của nhân viên. Nghiên cứu này cho rằng phong cách lãnh đạo không ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của nhân viên có thể do đặc điểm công việc của họ trong bộ phận sản xuất. Puspitasari & Adam (2019) đã nghiên cứu điều tra ảnh hưởng của căng thẳng công việc và động lực đến hiệu quả công việc tại Satuan Polisi Pamong Praja Kabupaten Gresik thông qua phương pháp định lượng bằng cách sử dụng ba bảng câu hỏi khác nhau với thang đo Likert.
Cuộc khảo sát này đã chỉ ra rằng một phần bằng cách sử dụng t-test và 5% đáng kể, căng thẳng công việc và động lực làm việc ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất công việc, cũng bằng cách sử dụng F-test và 5% đáng kể, được biết rằng đồng thời, căng thẳng công việc và động lực làm việc có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả công việc. Tóm lại, hiệu suất công việc có thể được cải thiện khi tình trạng căng thẳng trong công việc ít hơn và động lực làm việc cao. Re’em (2010) đã thực hiện nghiên cứu “Tạo động lực thúc đẩy nhân viên ở khu vực công: các công cụ ứng dụng trong thực tiễn”. Nghiên cứu được thực hiện nhằm hướng đến việc tìm ra các nhân tố lý thuyết và các chiến thuật có thể áp dụng trong thực tế, từ đó giúp nhà quản lý khu vực công tạo ra nhiều động lực làm việc hơn cho nhân viên của họ.
Bởi vì động lực làm việc đóng vai trò quan trọng đối với kết quả công việc của người lao động. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phân tích tổng hợp theo hướng ứng dụng thông qua việc lược khảo các tài liệu về động lực làm việc ở cả khu vực công và khu vực tư. Mặt khác, do động lực làm việc là vấn đề của mỗi cá nhân, vì vậy tác giả đã khuyến nghị nhà quản lý cần sử dụng các chiến thuật một cách thận trọng, phù hợp với từng hoàn cảnh và từng cá nhân. 7 Denibutun (2012) đã có nghiên cứu “Động lực làm việc: khung lý thuyết”.
Cho đến nay trên thế giới đã có khá nhiều các học thuyết khác nhau hướng đến việc nỗ lực giải thích bản chất của động lực làm việc. Các lý thuyết về động lực giúp giải thích hành vi của một người nhất định tại một thời điểm nhất định. Có thể chia các học thuyết này thành 2 nhóm: (1) Học thuyết nội dung tập trung nhận dạng những nhu cầu của cá nhân có ảnh hưởng đến hành vi của họ ở nơi làm việc, bao gồm: Lý thuyết tháp nhu cầu của Maslow; Mô hình tháp nhu cầu điều chỉnh của Alderfer (mô hình này là sự rút gọn, giản lược từ mô hình gốc của Maslow); Thuyết 2 nhân tố của Herzberg (gồm nhóm nhân tố thúc đẩy và nhóm nhân tố duy trì); Thuyết thành tựu thúc đẩy của McClelland gồm: nhu cầu thành tựu; nhu cầu quyền lực; nhu cầu liên minh); (2) Học thuyết quá trình tập trung nghiên cứu vào quá trình tư duy của con người. Quá trình tư duy này có ảnh hưởng đến quyết định thực hiện những hành động khác nhau của con người trong công việc, bao gồm các lý thuyết sau: Thuyết kỳ vọng của Vroom; Thuyết công bằng của Adam; Lý thuyết mục tiêu của Locke; Thuyết thẩm quyền của Heider và Kelley.
Như vậy có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng tóm lại, động lực làm việc liên quan đến các thái độ hành vi của cá nhân. Nó bắt nguồn từ các nhu cầu nội tại khác nhau của cá nhân đó và thúc đẩy cá nhân hành động để thỏa mãn các nhu cầu này. Động lực làm việc cũng bao hàm năng lực, mục tiêu, sự cố gắng, sự lựa chọn, sự kiên trì và sức lực cần thiết của cá nhân trong quá trình lựa chọn, định hướng, tự thể hiện, thay đổi, kháng cự và liên tục của hành vi. Mặt khác, động lực làm việc có thể thay đổi bởi nó không chỉ phụ thuộc vào đặc điểm, kiến thức, kỹ năng và khả năng của cá nhân mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như đặc điểm công việc, quan hệ xã hội, môi trường kinh tế - xã hội và đặc điểm của tổ chức nơi cá nhân đó làm việc.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Tại Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh khác nhau của hoạt động tạo động lực làm việc trong doanh nghiệp.
Tác giả Vũ Thị Uyên (2007) với luận án: “Tạo động lực cho lao động quản lý trong các Doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020” đã hệ thống hóa những lý luận căn bản về lao động quản lý và vai trò của lao động quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN; hệ thống và đề xuất về động lực lao động, các nhân tố tạo động lực, các biện pháp tạo động lực cho người lao động và lao động quản lý trong Doanh nghiệp. Đồng thời, tác giả cũng phân tích và đánh giá về thực trạng động lực cho lao động quản lý trong các Doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội, rút ra một số nguyên nhân cơ bản làm hạn chế động lực của lao động quản lý trong Doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội và đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm tạo động lực cho lao động quản lý trong Doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội. Như vậy, luận án tập trung chủ yếu vào đối tượng là lao động quản lý. Đây là điểm khác biệt với đề tài mà tác giả đang nghiên cứu.
Trương Minh Đức (2011), trong bài viết về “Ứng dụng mô hình định lượng đánh giá mức độ tạo động lực làm việc cho nhân viên Công ty trách nhiệm hữu hạn ERICSSON Việt Nam” đã dựa trên lý thuyết tháp nhu cầu Maslow để đánh giá mức độ tạo động lực làm việc cho các nhân viên Công ty trách nhiệm hữu hạn Ericsson tại Việt Nam. Tác giả Lê Thị Luyến (2012) đã nghiên cứu về “ảnh hưởng của quản trị nguồn nhân lực đến sự gắn kết của nhân viên đối với tổ chức tại Tổng Công ty Điện lực TP.