Chương 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực cho nhân viên Ngân hàng thương mại Chương 2. Thực trạng tạo động lực cho nhân viên Ngân Hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt chi nhánh Hà Nội Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực cho nhân viên Ngân Hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt chi nhánh Hà Nội.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NHÂN VIÊN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về động lực và tạo động lực 1. Nhu cầu Theo bài giảng của tác giả Trần Xuân Cầu: “Nhu cầu là những đòi hỏi, mong ước của con người xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau như: tâm sinh lý, xã hội. Nó xuất phát từ trạng thái tâm lý khi con người cảm thấy thiếu thốn, không thỏa mãn về cái gì đó, từ đó, thúc đẩy họ có những hành động để đạt được những đòi hỏi, mong ước đó.” Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống.
Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa. Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội. Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận.
Về mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân. Động lực Theo PGS.TS Bùi Anh Tuấn viết trong Giáo trình hành vi tổ chức 2009: “Động lực lao động là những yếu tố bên trong kích thích con người làm việc cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng nỗ lực, say mê mà làm việc nhằm đạt được mục tiêu của cổ chức cũng như của bản thân người lao động.
Nguyễn Vân Điềm & TS. Nguyễn Ngọc Quân (2007), Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân “ Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con người để nâng cao mọi nỗ lực của mình nhằm đạt được mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó”. 4 Nhà nghiên cứu Kreitner cho rằng: "Động lực làm việc là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định."(Kreitner and Kinicki, 2009) Ta có thể hiểu động lực là động cơ thúc đẩy tất cả các hành động của con người. Đây là một trạng thái nội tại, cung cấp sinh lực và hướng con người vào những hành vi có mục đích.
Nền tảng của động lực là các cảm xúc, mà cụ thể, nó dựa trên sự né tránh, những trải nghiệm cảm xúc tiêu cực và tìm kiếm những cảm xúc tích cực. Tạo động lực Theo PGS. Lê Thanh Hà (2012) “ Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức.” “Tạo động lực là tất cả các hoạt động, chính sách, biện pháp, cách thức quản lí mà một tổ chức, hay một doanh nghiệp tác động tới người lao động, tác động tới môi trường làm việc và các mối quan hệ xung quanh nhằm làm cho người lao động có động lực làm việc, hài lòng hơn với công việc.” (Bùi Anh Tuấn và Phạm Thuý Hương, 2009,p.91) Tạo động lực làm việc cho người lao động sẽ khiến cho người lao động có động lực làm việc, họ sẽ dồn hết khả năng để thực hiện công việc được giao, đạt mục tiêu của doanh nghiệp, đáp ứng làm thỏa mãn nhu cầu, gia tăng sự thỏa mãn công việc của người lao động và độ gắn kết của người lao động với doanh nghiệp. Vậy tại sao phải tạo động lực? Trong quá trình làm việc, thời gian đầu hầu hết nhân viên đều mang trong mình sự đam mê, nhiệt huyết và những khát khao có được những thành tích hay vị trí công việc cao hơn.
Nhưng sau một thời gian dài nhân viên sẽ có thái độ nhàm chán, hiệu quả làm việc không như lúc đầu, vì thế nhà quản lý phải hiểu tâm lý của nhân viên, có những chính sách quản lý riêng để tạo động lực, tăng sự nhiệt huyết cho nhân viên, mang lại kết quả tốt nhất trong công việc. Vai trò và mục đích của tạo động lực 1. Vai trò Tạo động lực có vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động khi mà các điều kiện khác là không đổi. Nó là sự thúc đẩy từ bên trong con người để 5 họ có thể lao động tích cực hơn.
Dù hoạt động này đòi hỏi rất nhiều thời gian và chi phí nhưng nó sẽ đem lại hiệu quả lâu dài cho cả người lao động, doanh nghiệp và xã hội. Đối với người lao động Động lực thúc đẩy người lao động làm việc với sự hăng say nhiệt huyết mang tinh thần cao từ đó sẽ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao nâng cao khả năng làm việc của họ. Bên cạnh đó việc họ hoàn thành tốt nhiệm vụ giúp họ có thu nhập chắc chắn hơn, giảm bớt áp lực, củng cố tinh thần. Làm việc với tinh thần thoải mái cho người lao động điều kiện để phát huy khả năng sáng tạo trong công việc, nâng cao năng suất lao động.
Quan trọng nhất là động lực giúp họ cảm thấy yêu thích công việc của mình gắn bó hơn với công việc đó cũng như doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Tạo động lực là điều rất quan trọng trong công tác quản lý của doanh nghiệp, điều đó khuyến khích lao động làm việc tốt hơn đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ khai thác được tối đa khả năng của người lao động, sử dụng hiệu quả nguồn lực của mình. Điều đó giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, đạt được mục tiêu, thúc đẩy sản xuất ngày càng phát triển. Bên cạnh đó tạo động lực lao động giúp cho người lao động gắn bó hơn với doanh nghiệp hạn chế việc đánh mất nhân tài, không những thế còn giúp thu hút được nhiều lao động tốt có trình độ chuyên môn cao, giảm chi phí tuyển dụng từ đó nâng cao được uy tín của doanh nghiệp.
Mặt khác khi người lao động có động lực, họ làm việc với tinh thần hăng say, thoải mái tạo ra môi trường làm việc hiệu quả, xây dựng được văn hoá doanh nghiệp. Đối với xã hội Từ những cái nhỏ tạo thành cái lớn, qua những phân tích ở trên, từ con người, doanh nghiệp phát triển từ đó xã hội phát triển. Khi năng suất lao động tăng làm ra nhiều của cải vật chất giúp phát triển kinh tế - xã hội. Ngược lại khi xã hội phát triển sẽ dễ dàng đáp ứng được những nhu cầu của người lao động.
Thực chất mối quan hệ giữa người lao động – doanh nghiệp – xã hội khi có sự thúc đẩy của động lực là mỗi quan hệ WIN-WIN. Mục đích Thúc đẩy giúp người lao động làm việc hiệu quả, sáng tạo. Tạo sự gắn kết giữa người lao động và công việc. Giúp các doanh nghiệp, tổ chức giữ được nhân tài, đạt được những mục tiêu đặt ra từ đó tiếp tục phát triển.
Thu hút nguồn nhân lực tốt, có lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Các học thuyết liên quan đến tạo động lực cho người lao động 1. Học thuyết của Maslow Năm 1943, Abraham Maslow – Nhà tâm lý học người Mỹ đã đưa ra học thuyết Tháp Nhu Cầu. Theo đó ông cho rằng con người có 5 cấp độ nhu cầu cơ bản được sắp xếp từ thấp tới cao.1: Tháp nhu cầu Maslow (Nguồn: Internet) a.
Nhu cầu sinh lý Bao gồm những nhu cầu cơ bản nhất của con người như ăn uống ngủ nghỉ. Những yếu tố ngày là những điều kiện cần thiết tối thiểu cần được thoả mãn, con người buộc phải đáp ứng những nhu cầu sinh lý này trước tiên để theo đuổi sự thỏa 7 mãn ở mức độ cao hơn. Nếu những nhu cầu này không được đáp ứng, nó sẽ dẫn đến sự gia tăng sự bất mãn trong một cá nhân. Nhu cầu sinh lý có thể được định nghĩa dựa trên đặc điểm và trạng thái.
Nhu cầu sinh lý như những đặc điểm ám chỉ đến nhu cầu lâu dài, không thay đổi được, đó là những yêu cầu của cuộc sống cơ bản của con người. Nhu cầu an toàn Nhu cầu an toàn bao gồm các vấn đề liên quan đến cảm giác an toàn về tài chính, sức khoẻ, công việc… Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn. Nhu cầu an toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được. Nhu cầu xã hội Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần cần có sự liên kết với những người khác.
Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, mong muốn được hòa nhập với mọi người. Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn. Bao gồm các vấn đề tâm lý như: sự gần gũi, thân cận, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này. Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại.
Nhu cầu được tôn trọng Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng. Nhu cầu được người khác tôn trọng là mong muốn được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ. Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao. Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người, thường xuất hiện khi mà con người đã đạt được những thành quả nhất định.
Nhu cầu khẳng định mình Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong các cấp độ nhu cầu. Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn 8 thành được mục tiêu nào đó.