CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 1.1 Một số khái niệm cơ bản về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (NNL) là sự kết hợp của thể trạng và trí lực trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của tổ chức hoặc một quốc gia, đó là tích lũy truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong một chiều dài lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Nguồn nhân lực chủ yếu những người trong độ tuổi lao động, có chất lượng, trình độ chuyên môn mà con người học tập nghiên cứu, tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cơ cấu NNL thể hiện trên các phương diện khác nhau như: Cơ cấu về loại hình, dân tộc, giới tính, độ tuổi, trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, năng lực… Từ những phân tích khái quát trên, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể số lượng, chất lượng và cơ cấu con người với các tiêu chí về thể trạng, trí lực, tâm lực để hoàn thành tốt các mục tiêu nhiệm vụ phát triển của tổ chức trong những giai đoạn cụ thể nhất định. Theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của tác giả Nguyễn Tiệp - Nhà xuất bản Lao động xã hội (2002): “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội” [1].
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc (UN): “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế – xã hội trong một cộng đồng” [2]. Theo tác giả Nguyễn Hữu Dũng (2004), “Về chiến lược phát triển con người trong hệ thống phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam”, Tạp chí Lao động và Xã hội: “Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội. Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã 6 hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ.
Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ. Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người. Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn” [3]. Như vậy, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.
Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Từ các quan niệm trên có thể thấy rằng, nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất, cung cấp nguồn lực cho sự phát triển chung của xã hội. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ con người có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, là tổng thể các yếu tố về thể trạng, trí lực và kỹ năng nghề nghiệp của họ được huy động vào quá trình lao động.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của nguồn nhân lực.
Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển về trí lực, 7 thể trạng, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; truyền thống lịch sử và tích lũy của nền văn hóa… Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội: Là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân: Là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Chất lượng NNL được hiểu bao gồm: - Thể trạng của nguồn nhân lực (thể chất và tinh thần); - Trí lực của nguồn nhân lực (trình độ văn hóa, tay nghề, kỹ năng của người lao động); - Phẩm chất tâm lý xã hội (tính kỷ luật, tự giác, trách nhiệm, tinh thần hợp tác, tác phong công nghiệp…). Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Phát triển nguồn nhân lực bao gồm các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể trạng…, làm cho con người trở thành những CBCC có những năng lực và phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêu cầu to lớn về cơ bản là tăng giá trị cho con người, trên của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” [4].
Phát triển nguồn nhân lực được hiểu là tổng hợp các vấn đề gồm hoạch định, tuyển dụng, đào tạo, bố trí sử dụng nhân lực, tạo điều kiện về môi trường làm việc, về thái độ làm việc của người lao động nhằm đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý đáp ứng mục tiêu và định hướng phát triển của tổ chức. Từ sự phân tích các quan niệm về phát triển nguồn nhân lực nêu trên, phát triển nguồn nhân lực là sự gia tăng về số lượng, chất lượng và cơ cấu CBCC được phản ánh qua kiến thức, kỹ năng, năng lực, trình độ, đạo đức để ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển ngày càng cao của tổ chức và xã hội. 8 Như vậy, phát triển nguồn nhân lực xét trong phạm vi rộng của một quốc gia được thể hiện qua ba khía cạnh về các mặt: Phát triển thể trạng, nâng cao phẩm chất và phát triển trí lực.2 Vai trò phát triển nguồn nhân lực trong các đơn vị hành chính Nhà nước 1.1 Khái niệm và đặc trưng nguồn nhân lực hành chính Nhà nước Nguồn nhân lực hành chính Nhà nước (HCNN) được tạo nên từ hai nguồn chính là bầu cử và tuyển dụng. Do các tổ chức hành chính Nhà nước có cấu trúc thứ bậc, thực hiện các chức năng đa dạng, phức tạp nên cũng có những đặc trưng cơ bản đó là: - Nguồn nhân lực hành chính là nhân tố hàng đầu đóng góp vào sự tồn tại, phát triển của cơ quan, tổ chức.
Đồng thời, nguồn lực này bị chi phối theo những nguyên tắc và kỉ luật nhất định do tổ chức đặt ra; - Nguồn nhân lực hành chính mang tính Đảng, tính phân cấp rõ rệt và sản phẩm của họ là các quyết định quản lý; những người được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; là chủ thể của nền công vụ, là những người thực thi công vụ và được Nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết, các quyền lợi chính đáng để thực thi công vụ; - Nguồn nhân lực hành chính hoạt động mang tính chất ổn định, lâu dài, ít chịu biến động, thay thế của nền hành chính. Bên cạnh những đặc điểm chung giống như nguồn nhân lực hành chính Nhà nước khác thì nguồn nhân lực hành chính cấp huyện có những điểm đặc thù sau: Thứ nhất, nguồn nhân lực hành chính cấp huyện được tuyển dụng qua các kì thi hàng năm do tỉnh tổ chức. Các kì thi này được tổ chức sát hạch rất chặt chẽ, bảo đảm về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để phục vụ Nhân dân. Thứ hai, nguồn nhân lực hành chính cấp huyện công việc chủ yếu là ra các quyết định quản lý hành chính chung có tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế - xã hội (KT-XH) và sự phát triển địa phương.
Vì vậy, nguồn lực phải đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực họ thực hiện. Thứ ba, nguồn nhân lực hành chính mang tính ổn định lâu dài nên độ tuổi tương đối cao.2 Vai trò phát triển nguồn nhân lực trong các đơn vị hành chính Nhà nước Phát triển CBCC là một phần không thể thiếu trong phát triển nguồn nhân lực trong các đơn vị hành chính của nước ta. Mọi hoạt động của chính quyền đơn vị cơ sở đều do nhân lực quản lý. Vai trò của đội ngũ CBCC trong đơn vị hành chính thể hiện: - Là nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng quyết định trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy HCNN, đưa các chính sách, đường lối của Đảng, Nhà nước trở thành thực tiễn, nắm bắt được những nguyện vọng, yêu cầu của thực tiễn của Nhân dân để đóng góp, tham mưu ý kiến kịp thời với lãnh đạo.
- Đội ngũ CBCC có vị trí, vai trò quyết định trong việc quản lý, chỉ đạo các vấn đề về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tại các đơn vị cơ sở. Thông qua họ mà đường lối Đảng, chính sách của pháp luật thực hiện theo đúng chỉ đạo, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng và Nhà nước.