CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC TỔ CHỨC 1. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực, trí lực và nhân cách [15, tr.
Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, trình trạng sức khỏe của mỗi người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, chế độ y tế, tuổi tác, thời gian công tác, giới tính…[15, tr. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng người [15, tr. Nhân cách được xem là toàn bộ những đặc điểm phẩm chất tâm lý của cá nhân, quy định giá trị xã hội và hành vi của họ. Nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực hiện nay vẫn không còn xa lạ.
Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chưa thống nhất. Tùy theo mục tiêu cụ thể mà người ta có những cách nhìn nhận khác nhau về nguồn nhân lực. Có thể nêu một số khái niệm như sau: Nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về trí lực, trí tuệ của mọi cá nhân trong tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì. Theo ý kiến này, nói đến nguồn nhân lực là nói đến sức óc, sức bắp thịt, sức tinh thần và nhìn nhận các khả năng này ở trạng thái tĩnh [15, tr 263].
Có ý kiến cho rằng, nguồn nhân lực là tổng hợp các cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể 7 chất và tính thần được huy động vào quá trình lao động. Khác với quan niệm trên, ở đây đã xem xét vấn đề ở trại thái động [15, tr 263]. Nguồn nhân lực bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào của người lao động. Nguồn nhân lực là tổng khả năng lao động của những người lao động trong tổ chức.
Về mặt số lượng, khái niệm này có phạm vi rộng hơn khái niệm nguồn lao động vì nguồn nhân lực bao hàm cả những người không nằm trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật nhưng thực tế có tham gia lao động. Về mặt chất lượng, khái niệm nguồn nhân lực mới theo nghĩa nhấn mạnh, đề cao khía cạnh chất lượng của người lao động. Mặc dầu không thể tách rời một cách máy móc giữa số lượng và chất lượng lao động, song để đáp ứng yêu cầu công việc trong thời đại công nghệ khoa học bùng như hiện tại thì khía cạnh chất lượng ngày càng hết sức quan trọng. Điều này đòi hỏi chất lượng của người lao động và cơ cấu lao động phải phù hợp với yêu cầu của tổ chức, phải tạo sự tương tác, phối hợp tốt nhất để thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Tuy nhiên, trong đề tài này tác giả sử dụng khái niệm: nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động). Bao gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức nhất định [15, tr. Phát triển nguồn nhân lực Phát triển là quá trình biến đổi, hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao. Là quá trình học tập, nhằm mở ra cho cá nhân những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai cho tổ chức.
Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm chuẩn bị cho người lao động theo kịp với cơ cấu của tổ chức khi thay đổi và phát triển. 8 Phát triển nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhiệm công việc nhất định. Trong đó, năng lực của người lao động được thể hiện ở kiến thức, kỹ năng và hành vi thái độ của người lao động và ứng với mỗi mục tiêu công việc cần một loại kỹ năng nhất định. Phát triển nguồn nhân lực thực chất là tạo ra sự tháy đổi mạnh mẽ về chất lượng của nguồn nhân lực theo hướng tiến bộ [15, tr 265].
Nói cách khác, phát triển nguồn nhân lực là làm gia tăng đáng kể chất lượng của nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tổ chức và nhu cầu của người lao động. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là quá trình tạo lập và phát triển năng lực toàn diện của người lao động vì sự phát triển của tổ chức và sự hoàn thiện bản thân của mỗi người. Nó là kết quả tổng hợp của cả ba bộ phận cấu thành: giáo dục, đào tạo và phát triển. Như vậy, phát triển nguồn nhân lực là một tổng thể các cách thức, biện pháp làm gia tăng đáng kể chất lượng của nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tổ chức và nhu cầu người lao động.
Đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo nguồn nhân lực là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người.264] Là quá trình học tập để chuẩn bị con người trong tương lai, để họ có thể chuyển tới công việc mới trong thời gian thích hợp.264] Là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân một công việc mới dựa trên những định hướng tương lai tổ chức. Mối quan hệ giữa đào tạo nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 9 Đào tạo nguồn nhân lực là làm cho con người có những năng lực cần thiết cho tổ chức, giúp cho người lao động có thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn. Còn phát triển nguồn nhân lực chính là gia tăng chất lượng của nguồn nhân lực nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của tổ chức. Chính vì vậy, muốn phát triển nguồn nhân lực thì phải thông qua đào tạo.
Đào tạo nguồn nhân lực là hoạt động cần thiết cho sự thành công của tổ chức và phát triển chức năng của con người. Vai trò của phát triển nguồn nhân lực a. Đối với tổ chức - Đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao trong công việc. - Thích nghi được với sự thay đổi công nghệ, máy móc, phương tiện làm việc.
Vận dụng được tiến bộ khoa học công nghệ vào tổ chức. - Tạo được lợi thế cạnh tranh của tổ chức so với các đối thủ. Xây dựng được vị thế vững vàng trên thị trường. - Xây dựng được môi trường làm việc, thái độ, hành vi và tư tưởng đúng đắn trong nhân lực tại tổ chức.
Giảm thiểu những tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn. - Giảm thiểu gánh nặng trong quản trị nhân lực. Đối với người lao động - Đáp ứng nhu cầu phát triển của mỗi bản thân. - Nâng cao năng suất công việc, lao động của bản thân, đưa ra kết quả thực hiện công việc cao.
- Giúp cho cá nhân mỗi người lao động sự tư duy, sáng tạo, những sáng kiến mới trong công việc. Giúp công việc đạt kết quả cao. NỘI DUNG CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Xác định cơ cấu nguồn nhân lực 10 Cơ cấu NNL phản ánh thành phần, tỷ lệ các bộ phần hợp thành và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận ấy trong tổng thể nhằm phục vụ cho mục tiêu của tổ chức.
[15] Cơ cấu NNL được xác định theo yêu cầu của các nhiệm vụ, mục tiêu của tổ chức. Nói cách khác là xuất phát từ mục tiêu của tổ chức, yêu cầu của công việc, yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và quy trình công nghệ mà phải chuẩn bị cơ cấu cho hợp lý. Điều này cũng có nghĩa là khi mục tiêu, chiến lược, điều kiện tổ chức thay đổi thì cơ cấu cũng sẽ thay đổi theo. Cơ cấu NNL hợp lý sẽ giúp tổ chức đạt được hiệu quả, mục tiêu trong kinh doanh, vừa sử dụng có hiệu quả từng thành viên trong tổ chức, vừa kích thích được tính tích cực lao động của các thành viên đó.
Xác định cơ cấu nguồn nhân lực tức là phải xây dựng cơ cấu nguồn nhân lực sao cho cơ cấu đó đáo ứng được nhiệm vụ, mục tiêu chiến lược của tổ chức. Để xác định cơ cấu nguồn nhân lực cần phải căn cứ vào: + Chức năng, nhiệm vụ và định mức của công việc trong tổ chức. Cần phải phân tích các loại công việc một cách rõ ràng, khoa học. Từ đó xác định nhu cầu các loại hình nhân lực cho từng công việc cụ thể; + Mức độ hoàn thành công việc của người lao động khi thực hiện các nhiệm vụ; + Các điều kiện về vật chất để hỗ trợ cho người lao động làm việc như máy móc, thiết bị… Khi tiến hành xây dựng cơ cấu các bộ phận trong một tổ chức cần phải tính đến chức năng, nhiệm vụ đặt ra cho các bộ phận trên cơ sở phân tích khối lượng công việc thực tế và các yếu tố ảnh hưởng đến.
Mục tiêu là xây dựng được một cơ cấu gọn nhẹ, tránh cồng kềnh, chồng chéo giữa các chức năng nhằm giải quyết nhanh và hiệu quả các vấn đề đặt ra. 11 Cùng với sự phát triển của đơn vị, việc tiến bộ trong cơ chế quản lý, cơ cấu nguồn nhân lực sẽ có những chuyển biến theo hướng phù hợp để tăng hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực và hiệu quả hoạt động của từng đơn vị. Thêm vào đó đạt được một cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý sẽ giúp cho các đơn vị không những đạt được hiệu quả, mục tiêu hoạt động, sử dụng có hiệu quả từng thành viên mà còn kích thích tích cực lao động của các thành viên trong đơn vị… Qua những phân tích trên có thể thấy được tầm quan trọng của cơ cấu nguồn nhân lực. Vì nó đảm bảo cho hoạt động thông suốt và đạt được hiệu quả cho tổ chức.
Cũng chính vì vậy mà việc cơ cấu và tái cơ cấu là hết sức quan trọng. Khi đưa ra một cơ cấu tổ chức phải tính đến các nhân tố và khả năng tác động để đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. - Tiêu chí để phản ảnh cơ cấu NNL bao gồm: + Cơ cấu nguồn nhân lực theo bộ phận: là thành phần và tỷ lệ của từng loại nhân lực theo đơn vị tổ chức trong tổng thể + Cơ cấu nguồn nhân lực theo ngành nghề: là thành phần và tỷ lệ của từng loại nhân lực theo ngành nghề trong tổng thể.