CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm nguồn nhân lực Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có nguồn lực của sự phát triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người…Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay. Một đất nước cho dù nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc thiết bị hiện đại nhưng không có con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.
Đến nay có rất nhiều khái niệm khác nhau nói về nguồn nhân lực thể hiện dưới nhiều góc độ khác nhau. Nguồn nhân lực là một khái niệm mang tính tổng hợp các đặc tính số lượng và chất lượng về nguồn nhân lực được miêu tả bởi quy mô và cơ cấu theo các đặc điểm giới tính, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề hay một đặc tính nào khác. Như vậy nói đến nguồn nhân lực chúng ta không dừng lại ở việc mô tả quy mô của lực lượng này và cơ cấu theo các đặc tính dễ xác định như giới tính, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn xác định các thông tin kỹ năng, kinh nghiệm sự tận tâm, sự nỗ lực tiềm năng sáng tạo. [7] Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức.
Luan van 8 Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. [10] Từ vấn đề trên, ta có thể hiểu Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng của con người, trước hết là tiềm năng lao động bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách, được huy động vào quá trình lao động nhằm đáp ứng mục tiêu của tổ chức 1. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực a. Phát triển: Phát triển là hoạt động học tập vươn ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, hoặc nhằm hoàn thiện kiến thức, kỹ năng và nhận thức hiện có của người lao động làm cho họ có những khả năng cao hơn.
Phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức Thuật ngữ phát triển nguồn nhân lực gắn liền với sự hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, được thể hiện ở việc nâng cao trình độ giáo dục quốc dân, trình độ kỹ thuật chuyên môn, sức khỏe thể lực cũng như ý thức, đạo đức của nguồn nhân lực. Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực: Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng): là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động”. Khái niệm này chưa nhấn mạnh đến mục tiêu cuối cùng của phát triển nguồn nhân lực là phát triển tổ chức, phát triển cá nhân người lao động. Theo khái niệm này thì nội dung phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát triển.
[12] - Giáo dục: được hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó làm cho đối Luan van 9 tượng đó dần dần có được phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra. - Đào tạo: là hoạt động làm cho con người trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định, là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện công việc tốt hơn. Phát triển nguồn nhân lực là quá trình thúc đẩy việc học tập có tính tổ chức, nâng cao kết quả thực hiện công việc, và tạo ra thay đổi thông qua việc tổ chức thực hiện các giải pháp (chính thức và không chính thức), các sáng kiến và các hoạt động quản lý nhằm mục đích nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức, khả năng cạnh tranh và đổi mới [14] Phát triển con người nói đến sự nâng cao kiến thức, kỹ năng, và năng lực vì mục tiêu tăng kết quả thực hiện trong một tổ chức. Điều này phản ánh sự nhấn mạnh đến cá nhân (phát triển cá nhân) cũng như sự cam kết về sự tiến bộ nghề nghiệp của con người trong tổ chức (phát triển nghề nghiệp).
Tiếp theo sự phát triển của con người trong tổ chức sẽ dẫn đến nâng cao kết quả thực hiện công việc và làm cho lợi ích của công ty – hiệu quả của tổ chức tăng lên, khả năng cạnh tranh cao hơn và lợi nhuận lớn hơn (quản lý kết quả thực hiện). Cuối cùng, sự phát triển nói đến sự phát triển liên tục về văn hóa của tổ chức thông qua các giải pháp nhằm mục tiêu thay đổi sứ mệnh của tổ chức, chiến lược, cơ cấu, chính sách và các qui trình, môi trường làm việc, thực tiễn quản lý và khả năng lãnh đạo (sự phát triển của tổ chức) Đào tạo và phát triển là quá trình của hệ thống phát triển chuyên môn trong các cá nhân với mục đích cải thiện hiệu suất. Sự khác nhau giữa đào tạo và phát triển thể hiện trong bảng sau: [10] Luan van 10 Tiêu chí Đào tạo Phát triển Tập trung Công việc hiện tại Công việc hiện tại và tương lai Kinh nghiệm công việc Thấp Cao Phạm vi Cá nhân người lao động Cá nhân, nhóm, tổ chức. Thời gian Ngắn hạn, ngay lập tức Dài hạn Mục đích Bổ sung kỹ năng còn Chuẩn bị cho tương lai.
yếu Tham gia Bắt buộc Tự nguyện Từ phân tích các khái niệm phát triển nguồn nhân lực trên: Phát triển nguồn nhân lực là chuẩn bị tương lai cho các cá nhân, là tổng thể các hoạt động học tập nhằm tạo ra sự thay đổi nghề nghiệp bản thân, phát triển năng lực của cá nhân giúp họ thành công trong tương lai, mở ra cho họ khả năng làm việc mới dựa trên sự phát triển tương lai của tổ chức và nhu cầu của bản thân người lao động. Nội dung phát triển được hiểu như sau: Học tập có tổ chức: học tập có tính tổ chức là người chủ doanh nghiệp khuyến khích nhân viên học tập nâng cao trình độ, cung cấp cơ hội học tập cho người lao động. Người học cam kết học tập với mục tiêu, kế hoạch học tập rõ ràng và có sự chuẩn bị cho việc đánh giá. Nâng cao kết quả thực hiện công việc: các hoạt động phát triển nguồn nhân lực đều quan tâm trực tiếp đến kết quả thực hiện công việc: cả công việc hiện tại và tương lai.
Việc cung cấp đúng những kinh nghiệm, kiến thức mà nhân viên thiếu sẽ góp phần nâng cao kết quả thực hiện công việc của họ. Phát triển cá nhân: phát triển cá nhân rộng hơn việc trang bị kiến thức hay phát triển kỹ năng, nó bao gồm cả sự trưởng thành và phát triển cá nhân Luan van 11 mà họ có thể áp dụng vào công việc hiện tại. Mục tiêu của phát triển cá nhân là phát triển kiến thức, kỹ năng, và năng lực nhờ đó thay đổi hành vi phù hợp với công việc hiện tại và đáp ứng được nhu cầu trước mắt của tổ chức cũng như nhu cầu cá nhân. Như vậy Phát triển nguồn nhân lực thực chất tạo sự mạnh mẽ về chất lượng của nguồn nhân lực về mặt trí lực nhằm đáp ứng mục tiêu của doanh nghiệp.
Mục đích của phát triển nguồn nhân lực Sử dụng tối đa nguồn lực hiện có và nâng cao hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tốt hơn. Mục tiêu chung của phát triển nhân lực là sử dụng tối đa hiệu quả nguồn lực hiện có thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về nghề nghiệp, có thái độ tốt đối với công việc, cũng như thích ứng tốt hơn với sự thay đổi công việc trong tương lai. Vai trò và ý nghĩa của phát triển nguồn nhân lực Về mặt tổ chức, doanh nghiệp: Phát triển là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng giá trị vô hình của doanh nghiệp, là điều kiện tiên quyết để một tổ chức có thể tồn tại và phát triển. Ý nghĩa của phát triển nguồn nhân lực: − Giúp các nhân viên nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc.
− Tạo điều kiện áp dụng tiến bộ kỹ thuật − Nâng cao tính ổn định và năng động của doanh nghiệp − Thỏa mãn nhu cầu phát triển của nhân viên. − Tạo sự gắn kết giữa người lao động và chủ doanh nghiệp. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP 1. Đặc điểm nguồn nhân lực của tổ chức: - Cơ cấu nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể các mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận lao động trong tổng nguồn lao động xã hội và được biểu hiện thông qua những tỉ lệ nhất định.
Cơ cấu nguồn lao động được xuất phát từ mục tiêu, yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, từ chiến lược phát triển của tổ chức mà chuẩn bị cho một nguồn lực cho phù hợp. Từ đó, vừa đạt hiệu quả, mục tiêu trong kinh doanh, vừa sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực đang có, vừa kích thích được tính tích cực lao đông của nhân viên. Điều này cũng có nghĩa là khi chiến lược, mục tiêu điều kiện kinh doanh của tổ chức thay đổi thì cơ cấu nguồn nhân lực cũng phải thay đổi theo. Cơ cấu nguồn nhân lực được thể hiện trên các phương tiện khác nhau như: cơ cấu lao động theo tuổi và giới tính, cơ cấu lao động theo trình độ học vấn, cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Cơ cấu nguồn nhân lực của một doanh nghiệp được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh theo đó sẽ có một tỷ lệ nhất định nhân lực. Việc xác định cơ cấu nguồn nhân lực có vai trò đặt biệt quan trọng, bởi nhiệm vụ, mục tiêu, chiến lược của tổ chức, địa phương chỉ có thể hoàn thành khi cơ cấu nguồn nhân lực được xác định một cách đúng đắn, đồng bộ và đáp ứng được nhiệm vụ cụ thể.