lời mở đầu, kết luận, được cấu tạo gồm 4 chương: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực - Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực - Chƣơng 3: Thực trạng về tình hình phát triển nguồn nhân lực tại Nhà máy Z195. - Chƣơng 4: Giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực tại Nhà máy Z195. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Cơ sở lý luận chung về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1.
Khái niệm về nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1. Nhân lực Còn được gọi là sức lao động của con người, là một đầu vào độc lập có vai trò quyết định các đầu vào khác của quá trình sản xuất kinh doanh. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
[14] Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. [14] Nguồn nhân lực là khả năng lao động xét trên các khía cạnh số lượng, cơ cấu, chất lượng có thể huy động tham gia hoạt động trong một tổ chức. a, Số lượng nguồn nhân lực: Đo lường thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng. Các chỉ tiêu này có liên quan mật thiết với quy mô và tốc độ tăng dân số.
Quy mô và tốc độ tăng dân số càng lớn thì quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại. Tuy nhiên sự tác động đó phải sau một khoảng thời gian nhất định mới có biểu hiện rõ (vì con người phải phát triển đến một mức độ nhất định mới trở thành người có sức lao động, có khả năng lao động). b, Chất lượng nguồn nhân lực: là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong 5 của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống người dân trong một xã hội nhất định.
Tóm lại Nguồn nhân lực là những khả năng sẵn có về số lượng, chất lượng của sức lao động để đáp ứng yêu cầu của một tổ chức thể hiện qua người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại Nguồn nhân lực của doanh nghiệp: là nguồn nhân lực mà doanh nghiệp cần và có thể huy động cho việc thực hiện hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của mình. Tùy theo quy mô đặc điểm, ngành nghề mà mỗi doanh nghiệp có cơ cấu, số lượng, chất lượng, trình độ khác nhau. Yếu tố con người đóng vai trò quan trọng trong nâng cao năng suất lao động của mỗi doanh nghiệp. Muốn đổi mới trong doanh nghiệp trước hết phải có con người có khả năng đổi mới.
[13] Nguồn nhân lực là một nguồn lực sống, là yếu tố của sự phát triển kinh tế xã hội, nó được xem xét trên góc độ số lượng và chất lượng. [7] Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực Phát triển là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế- xã hội.[2] Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động.[2] Phát triển nhân lực là toàn bộ những hoạt động tác động vào người lao động để người lao động có đủ khả năng phục vụ cho nhu cầu về lao động trong tương lai. 6 Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực với việc nâng cao hiệu quả sử dụng chung nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của vùng, của ngành hay của một doanh nghiệp.
[2] Nói cách khác, phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách va biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao sức lao động của xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Vai trò nguồn nhân lực * Nguồn nhân lực là mục tiêu và động lực chính của sự phát triển Nói đến vai trò nguồn nhân lực đối với sự phát triển là nói đến vai trò của con người. Vai trò của con người đối với sự phát triển thể hiện ở hai mặt: Thứ nhất, con người với tư cách là người tiêu dùng sản phẩm dịch vụ. Để không ngừng thỏa mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao về số lượng và chất lượng trong điều kiện các nguồn nhân lực đều có hạn, con người ngày càng phải phát huy đầy đủ hơn khả năng về thực lực và trí lực cho việc tạo ra kho tàng vật chất và tinh thần đó.
Vì vậy, sự tiêu dùng của con người, sự đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu của con người là động lực phát triển. Phát triển kinh tế là nhằm phục vụ mục tiêu phục vụ con người, làm cho cuộc sống con người ngày càng tốt hơn, xã hộ ngày càng văn minh. Con người là một lực lượng tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần của xã hội, nó thể hiện rõ nét nhất mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng. Mặc dù mức độ phát triển của sản xuất quyết định mức độ tiêu dùng, song nhu cầu tiêu dùng của con người lại tác động mạnh mẽ tới sản xuất, định hướng phát triển sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị trường.
Trên thị trường nhu cầu tiêu dụng của một loại hàng hóa nào đó tăng lên, lập tức thu hút lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó và ngược lại. Sự tiêu dùng của con người không chỉ là sự tiêu hao kho tàng vật chất và văn hóa do con người tạo ra mà chính là nguồn gốc của động lực phát triển. 7 Thứ hai, Với tư cách là người lao động ra tất cả các sản phẩm đó với sức lực và óng sáng tạo vô tận. Phát triển kinh tế được dựa trên nhiều nguồn lực: Nhân lực, vật lực, tài lực song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người.
Ngày cả trong điều kiện đạt được tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại như hiện nay cũng không thể tách rời nguồn nhân lực con người bởi: Chính con người tạo ra những máy móc thiết bị hiện đại đó. Điều đó thể hiện mức độ hiểu biết và chế ngự tự nhiên của con người. Ngay cả đối với máy móc thiết bị hiện đại, nếu thiếu sự điều khiển, kiểm tra của con người thì chúng chỉ là vật vô chi vô giác. Chỉ có tác động của con người mới phát động và đưa chúng vào hoạt động.
[3] * Nguồn lực là trung tâm của sự phát triển Con người không chỉ là mục tiêu, động lực của sự phát triển, thể hiện mức độ cải biến tự nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ con người mà còn tạo ra những điều kiện để hoàn thiện bản thân con người. [3] Lịch sử phát triển chứng minh rằng trải qua quá trình lao động hàng triệu năm mới trở thành con người ngày nay và trong quá trình đó, mỗi giai đoạn phát triển của con người lại làm tăng thêm sức mạnh chế ngự thiên nhiên, tăng thêm động lực cho sự phát triển. Như vậy động lực, mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triển tới bản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người. Điều đó lý giải tạo sao con người được coi là nhân tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát triển.
Phân loại nguồn nhân lực Tùy theo giác độ nghiên cứu mà người ta phân chia nguồn nhân lực theo các tiêu thức khác nhau: 1. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành a, Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số: bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Theo thống kê của liên hợp quốc nhóm này là dân số hoạt động (Active population). [8] 8 Độ tuổi lao động là giới hạn về tâm sinh lý mà theo đó con người có đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động.
Việc quy định giới hạn độ tuổi lao động phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng nước và trong từng thời kỳ. Ở nước ta quy định giới hạn độ tuổi lao động là từ tròn 15 tuổi đến tròn 55 tuổi (đối với nữ) và 60 tuổi (đối với nam giới). Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số chiếm tỷ lệ cao (thường là 50%). Trên thế giới căn cứ vào quan hệ tỷ lệ trên, trong và tuổi lao động, người ta chia dân số và nguồn nhân lực ra 3 dạng sau: 1.
Tỷ lệ lao động cao (gần 50% dân số), tỷ lệ trên tuổi lao động thấp (khoảng 10%). Đây là dân số trẻ thời gian ở các nước đang phát triển. Dạng này hầu hết khả năng tăng dân số và nguồn nhân lực cao hoặc quá cao. Tỷ lệ dân số trên tuổi và dưới tuổi lao động vừa phải.
Đây là dân sô tương đối ổn định. Tỷ lệ dân số thấp hơn tỷ lệ trên tuổi lao động. Đây là dạng dân số già (thoái triển) báo hơn trong tỷ lệ dân số thấp hoặc rất thấp. b, Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế: còn gọi là dân số hoạt động kinh tế.