Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, sự phát triển nhanh chóng của khoa học - kỹ thuật đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao trình độ cho đội ngũ lao động. Trình độ nhận thức và kỹ năng thực hành của người lao động nếu không theo kịp tốc độ đổi mới công nghệ sẽ trở thành rào cản lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Quán triệt quan điểm Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng về việc đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, nhận thức quản trị hiện đại đã chuyển dịch từ việc chỉ chú trọng đầu tư máy móc, thiết bị sang việc coi trọng và đầu tư bài bản cho nguồn nhân lực. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực không chỉ mang lại lợi ích lâu dài cho người lao động mà còn là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự ổn định và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường.
Xuất phát từ thực tiễn sản xuất tại Nhà máy Sợi II thuộc Công ty Dệt may Hà Nội (Hanosimex), tác giả Nguyễn Thị Bích Nụ đã thực hiện chuyên đề thực tập tốt nghiệp với đề tài "Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Nhà máy Sợi II" dưới sự hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Vân Điềm.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận chung về ý nghĩa, mục tiêu, nội dung và các bước tổ chức đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
- Phân tích quá trình hình thành, phát triển, đặc điểm tổ chức sản xuất và thực trạng công tác quản lý, sử dụng và đào tạo nguồn nhân lực tại Nhà máy Sợi II - Công ty Dệt may Hà Nội.
- Đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những mặt tồn tại trong công tác đào tạo và quản lý lao động của đơn vị.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác đào tạo, phát triển công nhân kỹ thuật và lao động quản lý tại Nhà máy Sợi II.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác đào tạo và phát triển các nhóm nhân lực (trọng tâm là công nhân kỹ thuật và cán bộ quản lý).
- Phạm vi không gian: Nhà máy Sợi II – đơn vị thành viên hạch toán trực thuộc Công ty Dệt may Hà Nội (Hanosimex).
- Phạm vi thời gian: Số liệu sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 1997 - 1999 và số liệu hoạt động sản xuất, tổ chức lao động của Nhà máy Sợi II trong các tháng đầu năm 2000 (đặc biệt là Quý I/2000 và tháng 1/2000).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Văn bản tiếp cận nguồn nhân lực dưới góc độ là nguồn vốn đem lại giá trị thặng dư thông qua giá trị sức lao động. Hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực được định nghĩa là "loại hoạt động có tổ chức, được điều khiển trong một thời gian xác định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách", cấu thành bởi ba bộ phận:
- Đào tạo: Quá trình học tập giúp người lao động thực hiện chức năng, nhiệm vụ hiện tại có hiệu quả hơn.
- Giáo dục: Quá trình học tập chuẩn bị cho con người chuyển sang công việc mới trong tương lai thích hợp.
- Phát triển: Quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân những công việc mới dựa trên định hướng phát triển tương lai của tổ chức.
Tài liệu xác định quy trình tổ chức đào tạo nguồn nhân lực tiêu chuẩn gồm 7 bước:
- Xác định nhu cầu đào tạo.
- Xác định mục tiêu của khóa đào tạo.
- Lựa chọn đối tượng đào tạo.
- Xây dựng chương trình và lựa chọn phương pháp đào tạo (đào tạo tại nơi làm việc, đào tạo tại các lớp cạnh doanh nghiệp, đào tạo tại trường chính quy).
- Dự tính chi phí đào tạo.
- Lựa chọn và đào tạo giáo viên.
- Đánh giá chương trình đào tạo.
Về mặt định lượng, văn bản đưa ra các mô hình tính toán nhu cầu công nhân kỹ thuật ($N_c$) dựa trên ba trường hợp cụ thể:
-
Dựa trên khối lượng công việc và mức hoàn thành:
$$N_c = \frac{M}{P \times H}$$
(Trong đó: $M$ là khối lượng công việc; $P$ là năng suất định mức; $H$ là hệ số hoàn thành mức).
-
Dựa trên số lượng thiết bị, định mức phục vụ và số ca làm việc:
$$N_c = \frac{M}{P} \times K$$
(Trong đó: $M$ là số máy móc thiết bị; $P$ là số máy một công nhân phục vụ; $K$ là số ca làm việc của thiết bị).
-
Khi không có sẵn mức phục vụ, tính theo chỉ số phát triển:
$$N_c = \frac{S_1 \times I_m \times I_k}{I_w}$$
(Trong đó: $S_1$ là số công nhân thực tế kỳ báo cáo; $I_m$ là chỉ số số lượng thiết bị kỳ kế hoạch; $I_k$ là chỉ số hệ số ca làm việc bình quân; $I_w$ là chỉ số năng suất lao động kỳ kế hoạch).
Đồng thời, hiệu quả kinh tế của đào tạo được đo lường bằng thời gian thu hồi chi phí đào tạo ($T$):
$$T = \frac{C_d}{M}$$
(Trong đó: $T$ là thời gian thu hồi chi phí tính bằng năm; $C_d$ là toàn bộ chi phí đào tạo; $M$ là thu nhập thuần túy tăng thêm do công nhân sau đào tạo đem lại trong một năm).
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích dữ liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu từ các báo cáo sản xuất kinh doanh, báo cáo nhân sự, bảng cân đối thời gian lao động.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh số liệu thực hiện qua các năm (1997 - 1999) và các tháng trong Quý I/2000 để đánh giá mức độ tăng trưởng doanh thu, biến động lao động và tỷ lệ sản phẩm cấp 2.
- Nguồn dữ liệu: Số liệu phòng Kế toán - Tài chính, phòng Tổ chức Hành chính của Công ty Dệt may Hà Nội và các số liệu quản lý kỹ thuật, chấm công, cơ cấu lao động tại Nhà máy Sợi II.
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Ý nghĩa của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp
Phần này tập trung làm rõ cơ sở lý luận về quản trị nhân sự trong doanh nghiệp:
- Tác dụng đối với tổ chức: Đào tạo giúp giảm sự phụ thuộc vào hoạt động giám sát trực tiếp (do người lao động tự giác và thành thạo thao tác), hạn chế tối đa tai nạn lao động do yếu tố chủ quan của con người, tăng tính ổn định và linh hoạt cho bộ máy sản xuất.
- Tác dụng đối với người lao động: Bảo đảm việc làm và thu nhập ổn định, mở rộng cơ hội thăng tiến và bố trí công việc phù hợp với năng lực.
- Nội dung tổ chức đào tạo: Phân tích chi tiết ba hình thức đào tạo công nhân kỹ thuật (tại nơi làm việc qua kèm cặp cá nhân/tổ đội; mở lớp cạnh doanh nghiệp; gửi đi đào tạo tại trường chính quy). Phân tích cấu tạo chương trình kỹ thuật cơ bản (chiếm 70 - 80% nội dung, gồm vẽ kỹ thuật, kim loại, điện tử, khí động lực, dung sai, tổ chức sản xuất) và giai đoạn chuyên môn hóa.
- Đào tạo cán bộ chuyên môn và lao động quản lý: Nêu rõ các phương pháp phát triển kỹ năng điều hành như luân chuyển công việc, kèm cặp bởi cố vấn, tham gia các khóa học chuyên đề ngắn hạn và ứng dụng mô phỏng vi tính.
Phần II: Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Công ty Dệt may Hà Nội và Nhà máy Sợi II
Nội dung phần này giới thiệu bức tranh toàn cảnh về lịch sử phát triển, mô hình quản lý và năng lực sản xuất của đơn vị:
- Lịch sử Công ty Dệt may Hà Nội (Hanosimex): Khởi công xây dựng tháng 2/1979 trên diện tích 13,6 ha tại Mai Động, Thanh Trì, Hà Nội; chính thức hoạt động ngày 21/11/1984. Doanh nghiệp phát triển qua các mốc: thành lập Xí nghiệp liên hợp Sợi - Dệt kim Hà Nội (1991), sáp nhập Nhà máy Dệt khăn Hà Đông và Nhà máy May thêu Đông Mỹ (1995), chuyển đổi thành Công ty Dệt Hà Nội (1995) và Công ty Dệt may Hà Nội (2000) với 9 nhà máy thành viên.
- Cơ cấu tổ chức: Hoạt động theo chế độ một thủ trưởng với 2 cấp quản lý gồm khối phòng ban chức năng và khối các nhà máy thành viên.
- Năng lực và kết quả sản xuất kinh doanh: Năng lực kéo sợi đạt 150.000 cọc sợi (trên 10.000 tấn sợi/năm); dệt kim đạt trên 4.000 tấn vải/năm, 8 triệu sản phẩm may/năm (5 triệu sản phẩm xuất khẩu); khăn bông đạt 1.000 tấn/năm. Tổng diện tích mặt bằng đạt 24 ha.
| Chỉ tiêu |
Năm 1997 |
Năm 1998 |
Năm 1999 |
| Tổng doanh thu |
368 tỷ đồng |
> 380 tỷ đồng (tăng 5,5%) |
410 tỷ đồng (tăng 7,8%) |
| Lợi nhuận |
— |
Tăng 17% so với 1997 |
Tăng 1,38% so với 1998 |
| Lao động bình quân |
— |
Giảm 2% (-109 người) |
Giảm 1,5% (-81 người) |
| Thu nhập bình quân |
950.751 đồng/tháng |
Tăng 11% so với 1997 |
Tăng 33% so với 1998 |
- Quá trình hình thành Nhà máy Sợi II: Tiền thân là Phân xưởng Sợi II, trang bị dây chuyền công nghệ kéo sợi của hãng Mazoli (Italia) và Cộng hòa Liên bang Đức với công suất thiết kế 35.000 cọc sợi (4.127 tấn sợi các loại/năm), đưa vào hoạt động từ tháng 11/1982. Sau biến động thị trường Đông Âu năm 1989, nhà máy đã nghiên cứu và chuyển đổi thành công sang sản xuất sợi pha PE/Cotton (Nm 67,6; Nm 76).
- Quy trình công nghệ kéo sợi: Dây chuyền liên tục gồm: Kiện xơ cotton/PE $\rightarrow$ Xé/trộn $\rightarrow$ Máy bông (tung bông) $\rightarrow$ Máy chải (chải thô, chải kỹ) $\rightarrow$ Máy ghép (ghép trộn đợt 1, đợt 2) $\rightarrow$ Máy sợi thô $\rightarrow$ Máy sợi con $\rightarrow$ Máy ống $\rightarrow$ Máy đậu $\rightarrow$ Máy xe $\rightarrow$ Máy đánh ống sợi xe.
- Thực trạng lao động Nhà máy Sợi II (Tháng 1/2000): Tổng số có 594 lao động. Tỷ lệ lao động nữ chiếm ưu thế tuyệt đối với 406 người (68,35%). Lao động nữ tập trung cao ở các tổ sợi con (41/44 người), tổ ống (18/18 người), trong khi lao động nam tập trung ở khâu nặng nhọc như bông chải, ghép thô (chiếm 60 - 70%).
| Nhóm lao động / Chỉ tiêu |
Số lượng (người) |
Tỷ lệ (%) |
| Tổng số lao động trong danh sách |
594 |
100% |
| Tổng số lao động nữ |
406 |
68,35% |
| - Nữ có gia đình |
355 |
59,76% (trên tổng số LĐ) |
| - Nữ đang có thai |
21 |
3,54% |
| - Nữ đang nghỉ đẻ |
15 |
2,53% |
| - Nữ có con nhỏ dưới 12 tháng |
13 |
2,19% |
| - Nữ có con từ 12 đến dưới 36 tháng |
65 |
10,94% |
| - Nữ có con từ 36 đến dưới 72 tháng |
81 |
13,64% |
| - Nữ có con trên 6 tuổi |
141 |
23,74% |
| Trình độ chuyên môn kỹ thuật |
|
|
| - Trình độ đại học / trên đại học |
15 |
2,54% |
| - Trình độ trung cấp |
8 |
1,36% |
| - Công nhân kỹ thuật bậc 5 trở lên |
138 |
23,35% |
| - Lãnh đạo nhà máy (Ban Giám đốc + Trưởng ca) |
6 |
1,01% |
- Tình hình sử dụng thời gian lao động (Tháng 1/2000): Tổng số ngày công chế độ là 15.444 ngày. Tổng số ngày công vắng mặt là 1.703 ngày (trong đó nghỉ phép năm 761 ngày, thai sản 356 ngày, ốm đau 224 ngày, việc công 160,5 ngày, con ốm mẹ nghỉ 82 ngày). Tổng số ngày công ngừng việc là 1.392,93 ngày (chủ yếu do không có nhiệm vụ sản xuất 1.386 ngày, mất điện/hơi nước 6,93 ngày). Số ngày công tác thực tế là 12.348 ngày (đạt 77,9% so với chế độ). Bình quân một công nhân sản xuất công nghiệp làm việc 20,79 ngày/tháng và 7,61 giờ/ngày.
Phần III: Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở Nhà máy Sợi II
Phần này phân tích các yếu tố thúc đẩy và thực trạng tổ chức đào tạo tại nhà máy:
- Tầm quan trọng của công tác đào tạo:
- Sự thay đổi quy trình công nghệ: Sau 18 năm vận hành, máy móc xuống cấp; giai đoạn 1998 - 1999 nhà máy đầu tư thiết bị mới từ Đức, Italia, Đài Loan, đòi hỏi công nhân phải có kỹ năng vận hành công nghệ cao.
- Bù đắp thiếu hụt năng lực: Yêu cầu công nhân công nghệ phải tốt nghiệp THPT, cao trên 1,55m; công nhân bảo toàn máy móc phải đạt trình độ trung cấp, cao đẳng.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm: Khắc phục tình trạng phát sinh sợi cấp 2. Trong Quý I/2000, khối lượng sợi cấp 2 gia tăng: Tháng 1 là 10.381,5 kg (chiếm 4,0%), Tháng 2 là 11.717,1 kg (chiếm 4,18%) và Tháng 3 tiếp tục tăng, đe dọa trực tiếp đến mục tiêu tăng 5% định mức kinh tế kỹ thuật năm 2000.
- Thực trạng triển khai đào tạo: Áp dụng hình thức kèm cặp tại chỗ (công nhân bậc cao hướng dẫn thợ mới qua 3 bước: giảng giải nguyên lý/thao tác mẫu $\rightarrow$ giao việc làm thử có giám sát $\rightarrow$ giao việc độc lập). Tổ chức các lớp bồi dưỡng ngắn ngày về thao tác, nâng bậc thợ, bổ sung kiến thức về quy trình công nghệ mới và đào tạo chuyển đổi nghề thứ hai.
- Đánh giá chung: Công tác đào tạo đã giúp nhà máy duy trì nhịp độ sản xuất, tiếp thu thiết bị mới; tuy nhiên công tác đào tạo còn mang tính tình thế, chưa có bộ phận chuyên trách riêng, thiết bị đầu tư chưa đồng bộ dẫn đến việc bố trí lại lao động gặp khó khăn, thời gian ngừng việc do thiếu nhiệm vụ sản xuất còn cao.
Phần IV: Một số kiến nghị hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở Nhà máy Sợi II
Tác giả đề xuất ba nhóm kiến nghị cụ thể:
- Đối với công nhân kỹ thuật: Xây dựng kế hoạch đào tạo dài hạn gắn với kế hoạch đổi mới thiết bị; chuẩn hóa giáo trình thực hành thao tác; siết chặt tiêu chuẩn tuyển sinh học nghề; kết hợp đào tạo lý thuyết có hệ thống với rèn luyện kỹ năng thực tế; nâng cao kỷ luật lao động và thực hiện các biện pháp y tế - cải thiện điều kiện làm việc nhằm giảm số ngày công nghỉ ốm, nghỉ việc riêng.
- Đối với lao động quản lý: Tăng cường bồi dưỡng các kỹ năng quản trị hiện đại (phân công giao việc, quản lý thời gian, điều hành cuộc họp, giải quyết căng thẳng); tổ chức các hội thảo chuyên đề xử lý sự cố đầu ca; luân chuyển cán bộ nhằm tích lũy kinh nghiệm quản trị đa năng.
- Đối với Phòng Tổ chức Hành chính Công ty: Phối hợp chặt chẽ với Nhà máy Sợi II trong công tác dự báo nhu cầu nhân lực, hoàn thiện cơ chế khoán quỹ lương gắn liền với năng suất và chất lượng sản phẩm, cấp phát kinh phí đào tạo hợp lý và phối hợp với các cơ sở đào tạo chuyên ngành dệt may để cung ứng nguồn lao động đạt chuẩn.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Khái quát bức tranh sản xuất kinh doanh: Phản ánh quá trình tăng trưởng ổn định của Công ty Dệt may Hà Nội giai đoạn 1997 - 1999 (doanh thu tăng từ 368 tỷ lên 410 tỷ đồng, lợi nhuận và thu nhập người lao động tăng đều) bất chấp các khó khăn từ biến động thị trường và chi phí nguyên vật liệu nhập khẩu (chiếm 70% giá thành sản phẩm).
- Định lượng thực trạng sử dụng lao động tại Nhà máy Sợi II:
- Xác lập dữ liệu chi tiết về 594 lao động tại thời điểm tháng 1/2000, chỉ rõ đặc thù 68,35% là lao động nữ và ảnh hưởng của chính sách thai sản, con nhỏ tới việc bố trí ca kíp.
- Thống kê 1.703 ngày công vắng mặt và 1.392,93 ngày công ngừng việc trong tháng 1/2000, chỉ ra nguyên nhân chủ yếu do thiếu nhiệm vụ sản xuất (1.386 ngày công).
- Ghi nhận diễn biến gia tăng của tỷ lệ sợi cấp 2 trong Quý I/2000 (từ 4% lên trên 4,18%), chứng minh sự cần thiết phải nâng cao tay nghề thao tác của công nhân.
Đóng góp thực tiễn của đề tài
- Cung cấp cơ sở lý luận kết hợp hệ thống công thức tính toán khoa học ($N_c$, $T$) phục vụ công tác lập kế hoạch và tính toán hiệu quả vốn đầu tư đào tạo trong doanh nghiệp dệt may.
- Đề xuất quy trình đào tạo và các tiêu chuẩn nhân sự cụ thể (về thể lực, học vấn) thích ứng với quá trình hiện đại hóa thiết bị kéo sợi của Nhà máy Sợi II.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do thời gian thực tập có hạn và giới hạn dữ liệu tại thời điểm nghiên cứu, các số liệu chi tiết về cơ cấu lao động và thời gian làm việc mới chỉ phản ánh sâu trong phạm vi tháng 1/2000 và Quý I/2000 tại Nhà máy Sợi II; chưa tiến hành khảo sát định lượng diện rộng về mức độ hài lòng hay kiểm chứng thực nghiệm đầy đủ công thức thu hồi vốn đào tạo ($T = \frac{C_d}{M}$).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế sau đào tạo bằng việc lượng hóa cụ thể chi phí đầu tư ($C_d$) và thu nhập tăng thêm ($M$); xây dựng mô hình đào tạo liên kết giữa 9 nhà máy thành viên trong toàn bộ hệ thống Công ty Dệt may Hà Nội.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên ngành Quản trị nhân lực, Quản trị kinh doanh, Kinh tế lao động: Tham khảo khung lý thuyết về 7 bước tổ chức đào tạo, các công thức toán kinh tế xác định định biên nhân sự kỹ thuật và cách thức phân tích báo cáo sử dụng thời gian lao động.
- Cán bộ quản lý nhân sự tại các doanh nghiệp dệt may: Vận dụng các tiêu chuẩn phân loại lao động, phương pháp tổ chức kèm cặp thợ tại xưởng sợi và kinh nghiệm sắp xếp ca kíp đối với doanh nghiệp có tỷ lệ lao động nữ cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu lao động của Nhà máy Sợi II tại thời điểm tháng 1/2000 có đặc điểm gì nổi bật?
Nhà máy có tổng số 594 lao động, trong đó lao động nữ chiếm tỷ lệ áp đảo với 406 người (68,35%). Trong số lao động nữ, có 355 người đã lập gia đình (chiếm 59,76% tổng số lao động nhà máy), 21 người đang mang thai (3,54%), 15 người nghỉ đẻ (2,53%), 13 người nuôi con dưới 12 tháng và 65 người nuôi con từ 12 đến 36 tháng. Điều này khiến số ngày công vắng mặt vì thai sản, nuôi con nhỏ ở mức cao.
2. Trong phần cơ sở lý thuyết, nhu cầu công nhân kỹ thuật ($N_c$) được xác định bằng những công thức nào?
Văn bản trình bày 3 công thức xác định $N_c$:
- Theo khối lượng công việc: $N_c = \frac{M}{P \times H}$ (với $M$ là khối lượng, $P$ là năng suất định mức, $H$ là hệ số hoàn thành).
- Theo số lượng máy móc: $N_c = \frac{M}{P} \times K$ (với $M$ là số máy móc, $P$ là số máy một công nhân phục vụ, $K$ là số ca làm việc).
- Theo chỉ số phát triển khi chưa có mức phục vụ: $N_c = \frac{S_1 \times I_m \times I_k}{I_w}$.
3. Tỷ lệ sợi cấp 2 tại Nhà máy Sợi II biến động như thế nào trong Quý I năm 2000?
Khối lượng và tỷ trọng sợi cấp 2 có xu hướng gia tăng qua từng tháng trong Quý I/2000: Tháng 1 ghi nhận 10.381,5 kg (chiếm 4,0%), Tháng 2 ghi nhận 11.717,1 kg (chiếm 4,18%) và Tháng 3 tiếp tục tăng lên 18.000 kg. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp bách phải chuẩn hóa thao tác và bồi dưỡng nâng cao tay nghề công nhân.
4. Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty Dệt may Hà Nội trong giai đoạn 1997 - 1999 đạt được những chỉ tiêu nào?
Doanh thu năm 1998 đạt trên 380 tỷ đồng (tăng 5,5% so với năm 1997 là 368 tỷ đồng); năm 1999 đạt 410 tỷ đồng (tăng 7,8% so với 1998). Lợi nhuận năm 1998 tăng 17% so với 1997; năm 1999 tăng 1,38% so với 1998. Thu nhập bình quân của người lao động tăng từ 950.751 đồng/tháng năm 1997 lên mức tăng 11% năm 1998 và tăng 33% năm 1999.
5. Tiêu chuẩn tuyển chọn lao động mới phục vụ dây chuyền thiết bị hiện đại tại Nhà máy Sợi II được quy định ra sao?
Để vận hành và bảo dưỡng các thiết bị kéo sợi mới đầu tư từ Đức, Italia và Đài Loan, nhà máy đặt ra tiêu chuẩn: đối với công nhân công nghệ phải có chiều cao trên 1,55m và tốt nghiệp THPT; đối với công nhân bảo toàn cơ điện phải đạt trình độ trung cấp hoặc cao đẳng kỹ thuật.
Kết luận
Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Bích Nụ đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản trị đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp sản xuất. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực tế tại Nhà máy Sợi II - Công ty Dệt may Hà Nội giai đoạn 1997 - 2000, công trình đã làm rõ mối quan hệ giữa việc đổi mới công nghệ, chất lượng lao động và hiệu quả sử dụng thời gian làm việc. Các giải pháp và kiến nghị được xây dựng sát hợp với đặc thù sản xuất ngành sợi dệt, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác tổ chức và quản lý nhân lực tại đơn vị.