Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO TAY NGHỀ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.Một số vấn đề cơ bản về đào tạo tay nghề cho người lao động trong doanh nghiệp 1.Khái niệm về đào tạo và đào tạo tay nghề cho người lao động trong doanh nghiệp.Đào tạo tay nghề cho người lao động. Theo từ điển tiếng Việt: “Đào tạo là việc làm cho người học trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” (31, Tr279). Đào tạo: Là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.
(6, Tr27) Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định. Công tác đào tạo được coi là một cách thức để phát triển nghề nghiệp cho nhân viên và phát triển NNL cho doanh nghiệp (16, Tr8). Nhu cầu đào và phát triển nhằm đáp ứng sự thay đổi và hơn thế nữa, đào tạo cho công việc tương lai (13, Tr56). Đào tạo lao động kỹ thuật: “là quá trình hoạt động đào tạo có mục đích, có tổ chức và có kế hoạch trong hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành nhằm hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ cho mỗi cá nhân người lao động ở các cấp trình độ để có thể hành nghề, làm công việc phức tạp với năng suất và hiệu quả cao, đồng thời có năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ trong thực tế”.
(9, Tr29) -7- Trong quá trình đào tạo người lao động sẽ được bù đắp những thiếu hụt trong công việc, được cung cấp kiến thức kinh nghiệm thiết thực trong lĩnh vực chuyên môn được cập nhật kiến thức và mở rộng tầm hiểu biết để hoàn thành tốt những công việc được giao. Doanh nghiệp ngày càng phát triển, đòi hỏi người lao động thực hiện khối lượng công việc càng cao, đặt ra vấn đề cần phải không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ lao động. Các công cụ lao động, trang thiết bị làm việc ngày càng hiện đại, đòi hỏi trình độ kỹ thuật của người lao động cũng phải nâng cao để ứng dụng trong hoạt động kinh doanh. Đào tạo nhằm mục đích góp cho người lao động tiếp thu các kiến thức, học các kỹ năng mới và thay đổi quan điểm hành vi, nâng cao khả năng nhận thức về nghề nghiệp mà họ đang đảm nhận, nâng cao khả năng thực hiện công việc của mỗi cá nhân, qua đó nâng cao hiệu suất làm việc của doanh nghiệp.
Nghiên cứu về “đào tạo nghề” có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhìn từ các giác độ khác nhau như sau: - Dạy nghề là quá trình cung cấp cho người học một kỹ năng cụ thể, đào tạo gắn liền với truyền thống nghề nghiệp. Quá trình này có thể hoàn toàn độc lập và khác với quá trình đào tạo một văn bằng cụ thể như đào tạo văn bằng đại học, cao đẳng. - Đào tạo nghề nhấn mạnh vào việc cung cấp các kỹ năng cụ thể cho một việc làm, một dây chuyền công nghệ. Đào tạo tập trung vào kinh nghiệm thực tế để học sinh có thể đảm nhận một công việc trong 1 lĩnh vực cụ thể.
- Đào tạo nghề là hình thức kết hợp học lý thuyết với kèm cặp tại nơi làm việc, thường được áp dụng trong công việc đào tạo các công nhân kỹ thuật, làm nghề thủ công. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có -8- năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc một nhóm nghề. Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu”. (28, Tr174) Theo Cac - Mac công tác dậy nghề phải bao gồm các thành phần sau: - Một là: giáo dục trí tuệ.
- Hai là: Giáo dục thể lực như trong các trường thể dục thể thao hoặc bằng cách huấn luyện quân sự. - Ba là: dạy kỹ thuật nhằm nắm được vững những nguyên lí cơ bản của các quá trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất đơn giản nhất (8, Tr198). Ở Việt Nam, trong chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 và trong quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002 – 2010 theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 48/2002/QĐ-TTg ngày 11/04/2002 đã đề ra việc hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành với ba cấp trình độ kỹ thuật nghề: bán lành nghề, lành nghề và trình độ cao. Đó là một chủ trương phù hợp với xu thế cải cách giáo dục kỹ thuật và dạy nghề ở các nước trong khu vực và trên thế giới.Đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động.
Đào tạo nâng cao trình độ là đào tạo ngắn hạn, nhằm nâng cao trình độ đáp ứng kịp thời một yêu cầu cấp bách của thực tiễn. Đào tạo nâng cao trình độ cố gắng đảm bảo những yêu cầu cơ bản, hiện đại và thiết thực, tinh giảm và rút ngắn chương trình tới mức tối ưu để giảm thời gian đào tạo. Đào tạo nâng cao trình độ chỉ được cấp giấy chứng nhận hay chứng chỉ, không được cấp bằng tốt nghiệp, vì kết quả đào tạo nâng cao trình độ chưa đủ mức độ để làm thay đổi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người học. Trong khu vực và trên thế giới, tiêu chuẩn kỹ năng nghề được dùng đồng nghĩa với tiêu chuẩn năng lực thực hiện.
Tiêu chuẩn kỹ năng nghề bao -9- gồm tiêu chuẩn kiến thức và tiêu chuẩn kỹ năng thực hành nghề, được xây dựng cho từng công việc của nghề. Tiêu chuẩn kỹ năng nghề là một tập hợp các quy định tối thiểu về các công việc mà người lao động phải làm ở mức độ cần đạt được khi thực hiện các công việc đó tại chỗ làm việc thực tế ở cấp trình độ kỹ năng nghề tương ứng và quy định về những kiến thức cần thiết ở các mức độ cần đạt làm cơ sở cho thực hiện các công việc trên 1.Phương pháp đào tạo tay nghề cho người lao động trong doanh nghiệp.Đào tạo trong công việc. Đây là phương pháp đào tạo người lao động cách thức thực hiện công việc ngay trong quá trình làm việc, qua đó người học sẽ học được những kỹ năng, kiến thức cần thiết cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc dưới sự hướng dẫn của người lao động lành nghề hơn. Phương pháp này thường được áp dụng bởi chi phí không cao và người học có thể nắm bắt ngay được bài học.
Phương pháp này tạo điều kiện cho người lao động làm việc với những đồng nghiệp tương lai của họ, tạo điều kiện thuận lợi cho công việc sau này, họ có thể bắt trước những thói quen, hành vi lao động tốt của đồng nghiệp. Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những nhược điểm là lý thuyết không được trang bị đầy đủ và có hệ thống. Hơn nữa do thực hành tại nơi làm việc có thể gây ra hỏng hóc máy móc, dẫn đến đình trệ sản xuất, ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. (1) Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn công việc.
Công nhân được phân công làm việc chung với một người thợ có kinh nghiệm hơn. Công nhân này vừa học vừa làm bằng cách giám sát, nghe những lời chỉ dẫn và làm theo. - 10 - Quá trình thực hiện: - Giải thích cho công nhân mới về toàn bộ công việc. - Thao tác mẫu cách thức thực hiện công việc.
- Công nhân làm thử từ tốc độ chậm đến nhanh dần. - Kiểm tra chất lượng sản phẩm, hướng dẫn cho công nhân cách thực hiện tốt hơn. - Công nhân tự thực hiện công việc, khuyến khích công nhân cho đến khi họ đạt được tiêu chuẩn về số lượng và chất lượng công việc. Đây là cách đào tạo thông dụng ở Việt Nam, đặc biệt là ở trong các doanh nghiệp vừa, nhỏ và đối với những nghề thủ công phổ biến.
Đồng thời giúp cho người lao động nắm bắt nhanh kiến thức vì được thực hành ngay sau khi hướng dẫn. Tuy nhiên nhược điểm là can thiệp vào tiến trình sản xuất làm hư hại máy móc, thiết bị do chưa quen sử dụng. (2) Đào tạo theo kiểu học nghề. Đây là phương pháp phối hợp giữa lớp học lý thuyết với phương pháp dạy kèm.
Được áp dụng chủ yếu đối với các nghề thủ công hoặc với các nghề cần sự khéo léo. Thời gian đào tạo có thể từ 1-5 năm tuỳ theo loại nghề. Bằng phương pháp này người học vừa có thể nhanh chóng làm quen với công việc trên thực tế có một số kiến thức về lý thuyết tương đối đầy đủ. Nhưng người học khó có thể học hết được các kinh nghiệm từ phía người hướng dẫn họ.
(3) Kèm cặp và chỉ bảo. Đây là một phương pháp đào tạo tại chỗ để phát triển cấp quản trị trên cơ sở một kèm một hoặc một có thể kèm nhiều người. Trong quá trình đào tạo các học viên sẽ làm việc trực tiếp với người mà họ sẽ làm việc. Người này sẽ có trách nhiệm hướng dẫn cho học viên cách thức giải quyết các vấn đề trong phạm vi trách nhiệm.
Ngoài cơ hội quan sát, học viên cũng được chỉ định một số công việc quan trọng đòi hỏi các kỹ năng làm quyết định. Để đạt được kết - 11 - quả các cấp quản trị dạy kèm phải có một kiến thức toàn diện về công việc liên hệ với mục tiêu của tổ chức. Họ phải là những người sẵn lòng mất thời gian đáng kể để thực hiện công việc này. Mỗi quan hệ giữa người dậy và người học phải được xây dựng trên lòng tin cả hai bên với nhau.
Dùng để giúp cho cán bộ quản lý và nhân viên giám sát có thể học được các kiến thức kỹ năng cho công việc cần thiết trước mắt cũng như tương lai thông qua sự kèm cặp và chỉ bảo của những người quản lý giỏi hơn. Có ba hình thức đào tạo: - Kèm cặp chỉ bảo bởi người lãnh đạo trực tiếp. - Kèm cặp chỉ bảo bởi một số cố vấn. - Kèm cặt chỉ bảo bởi người quản lý có kinh nghiệm hơn.
Bên cạnh đó thực tập sinh cũng được áp dụng theo phương pháp này.