Luận án nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc sở tại vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ

Luận án phân tích nâng cao năng lực lãnh đạo cán bộ quản lý cấp phòng tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Viện Chiến lược Phát triển

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

193
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước

1.2. Năng lực, năng lực làm việc

1.3. Về năng lực lãnh đạo

1.4. Phương pháp tiếp cận đánh giá năng lực

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo

1.6. Tổng quan các nghiên cứu trong nước

1.7. Về năng lực và năng lực làm việc

1.8. Về năng lực lãnh đạo

1.9. Phương pháp tiếp cận đánh giá năng lực

1.10. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo

1.11. Nghiên cứu về nguồn nhân lực của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

1.12. Kết luận từ các công trình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án

1.13. Những đóng góp của các công trình đối với vấn đề luận án nghiên cứu

1.14. Khoảng trống nghiên cứu

1.15. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ CẤP PHÒNG THUỘC SỞ

2.1. Hoạt động lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở

2.2. Quan niệm về lãnh đạo

2.3. Chức năng nhiệm vụ của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở

2.4. Chức năng lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở

2.5. Năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở

2.6. Khái niệm năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở

2.7. Các yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở

2.8. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở

2.9. Nhóm các yếu tố thuộc về bản thân

2.10. Nhóm các yếu tố thuộc về tổ chức

2.11. Nhóm các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô

2.12. Phương pháp đánh giá năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở

2.13. Quy trình đánh giá năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở

2.14. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: KHUNG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CÁN BỘ QUẢN LÝ CẤP PHÒNG THUỘC SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

3.1. Tổng quan về vùng và vấn đề đặt ra đối với cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

3.2. Quá trình hình thành vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

3.3. Phương hướng phát triển kinh tế xã hội vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ thời kỳ đến năm 2020 và định hướng đến 2030

3.4. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

3.5. Những vấn đề đặt ra cho cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

3.6. Khung năng lực lãnh đạo cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

3.7. Vị trí và vai trò của Sở Kế hoạch và Đầu tư

3.8. Khung năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư

3.9. Yêu cầu đối với năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

3.10. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ CẤP PHÒNG THUỘC SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

4.1. Tổng quan về cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

4.2. Thực trạng năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

4.3. Quy trình đánh giá năng lực lãnh đạo cấp phòng thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

4.4. Tổng quan thực trạng năng lực lãnh đạo cấp phòng thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

4.5. Thực trạng kiến thức của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh tại vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

4.6. Thực trạng kỹ năng của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

4.7. Thực trạng tố chất lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

4.8. Đánh giá thực trạng năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở Kế hoạch và đầu tư tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và nguyên nhân của hạn chế

4.9. Những ưu điểm trong năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

4.10. Hạn chế trong năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

4.11. Nguyên nhân của các hạn chế

4.12. Tiểu kết chương 4

5. CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ CẤP PHÒNG THUỘC SỞ TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

5.1. Quan điểm, phương hướng, nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở tại vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2030

5.2. Phương hướng và mục tiêu nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

5.3. Một số giải pháp chính nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở tại vùng KTTĐ Bắc Bộ

5.4. Cải tiến và tăng cường công tác tổ chức và quản lý nhân sự

5.5. Đổi mới phương pháp đánh giá năng lực

5.6. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

5.7. Cải thiện chính sách tiền lương, thưởng và các chế độ đãi ngộ

5.8. Tạo động lực cho cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở

5.9. Một số kiến nghị

5.10. Tiểu kết chương 5

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về năng lực lãnh đạo

Năng lực lãnh đạo là yếu tố quyết định trong việc quản lý và điều hành các hoạt động tại các cơ quan nhà nước, đặc biệt là ở cấp phòng. Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng không chỉ giúp cải thiện hiệu quả công việc mà còn tạo ra môi trường làm việc tích cực. Theo nghiên cứu, năng lực lãnh đạo bao gồm nhiều yếu tố như kiến thức, kỹ năng và tố chất cá nhân. Những yếu tố này cần được phát triển đồng bộ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn. Đặc biệt, trong bối cảnh vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, việc nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng là rất cần thiết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng. "Năng lực lãnh đạo không chỉ là khả năng ra quyết định mà còn là khả năng truyền cảm hứng và tạo động lực cho nhân viên".

1.1. Định nghĩa và vai trò của năng lực lãnh đạo

Năng lực lãnh đạo được định nghĩa là khả năng của một cá nhân trong việc hướng dẫn, chỉ đạo và quản lý một nhóm người hoặc tổ chức. Vai trò của năng lực lãnh đạo trong quản lý cấp phòng là rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công việc và sự phát triển của tổ chức. Cán bộ quản lý cấp phòng cần có khả năng phân tích tình huống, đưa ra quyết định đúng đắn và tạo ra môi trường làm việc tích cực. "Một nhà lãnh đạo giỏi không chỉ là người ra quyết định mà còn là người biết lắng nghe và thấu hiểu nhân viên".

II. Thực trạng năng lực lãnh đạo tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Thực trạng năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Mặc dù đã có những tiến bộ nhất định, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong năng lực lãnh đạo của đội ngũ này. Các nghiên cứu cho thấy rằng nhiều cán bộ quản lý cấp phòng chưa đáp ứng được yêu cầu về kiến thức và kỹ năng lãnh đạo. "Năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng cần được cải thiện để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng". Việc đánh giá thực trạng này là cần thiết để xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo

Năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm yếu tố cá nhân, tổ chức và môi trường. Các yếu tố cá nhân như kiến thức, kỹ năng và tố chất lãnh đạo đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành năng lực lãnh đạo. Bên cạnh đó, yếu tố tổ chức như cơ cấu tổ chức, văn hóa doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến khả năng lãnh đạo. "Một tổ chức có văn hóa tích cực sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển năng lực lãnh đạo của cán bộ".

III. Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo

Để nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần cải tiến công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ. Việc tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về kỹ năng lãnh đạo sẽ giúp cán bộ nâng cao năng lực của mình. Thứ hai, cần cải thiện chính sách đãi ngộ để tạo động lực cho cán bộ quản lý. "Chế độ đãi ngộ hợp lý sẽ khuyến khích cán bộ phấn đấu nâng cao năng lực lãnh đạo". Cuối cùng, cần xây dựng một môi trường làm việc tích cực, nơi mà cán bộ có thể phát huy tối đa khả năng của mình.

3.1. Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ

Đào tạo và bồi dưỡng là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo. Cần thiết phải tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu về kỹ năng lãnh đạo, quản lý nhân sự và giải quyết vấn đề. "Đào tạo không chỉ giúp cán bộ nâng cao kiến thức mà còn phát triển kỹ năng mềm cần thiết trong công việc". Việc này sẽ giúp cán bộ quản lý cấp phòng tự tin hơn trong việc ra quyết định và lãnh đạo đội ngũ của mình.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước 1. Năng lực, năng lực làm việc Năng lực và năng lực làm việc là những thuật ngữ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực và ngày càng phổ quát. Những khái niệm này đã được nghiên cứu từ lâu bởi nhiều nhà khoa học, các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, các trường đại học, học viện.

Song cơ bản có hai cách tiếp cận, là cách tiếp cận của Mỹ và cách tiếp cận của Anh. Cụ thể một số công trình của các tác giả nước ngoài đã được công bố điển hình theo các cách tiếp cận trên như sau: Nhóm thứ nhất, theo cách tiếp cận của Mỹ, tiếp cận dựa trên đầu vào, cụ thể: Nhóm tiếp cận này được bắt đầu với nghiên cứu của Boyatzis (1982). Dựa trên một nghiên cứu 2000 nhà quản lý giữ 44 vị trí khác nhau trong 12 tổ chức, Boyatzis đã cho rằng năng lực là “những thuộc tính cơ bản của một người có liên quan nhân quả đến hiệu quả và/ hoặc hiệu quả vượt trội trong công việc” Theo ông, thuộc tính cơ bản đó có thể bao gồm một động lực, một đặc điểm, kỹ năng hay một khía cạnh của bản thân hay vai trò xã hội hoặc tri thức. Phát triển khái niệm ban đầu của Boyatzis, Spencer, L.

(1993) cho rằng năng lực bao gồm: Động cơ, đặc điểm bản thân, thái độ hoặc giá trị, kiến thức nội dung hoặc nhận thức hoặc kỹ năng hành vi - bất kỳ đặc điểm cá nhân nào có thể được đo lường hoặc được tính một cách đáng tin cậy và điều đó có thể được hiển thị để phân biệt đáng kể giữa người có biểu hiện vượt trội và trung bình, hoặc giữa người hoạt động hiệu quả và không hiệu quả. Tiếp tục phát triển khái niệm năng lực của Boyatzis (1982) và Spencer, L. (1993), các nghiên cứu sau này tiếp tục mở rộng phạm vi của 13 năng lực, bao gồm kiến thức và kỹ năng bên cạnh hành vi hay đặc điểm tâm lý xã hội. Chẳng hạn trong các nghiên cứu của các tác giả sau: Theo Cohen W.A (1990), trong nghiên cứu “The Art of a Leader, Englewood Cliffs”, "Năng lực là tập hợp của các kiến thức liên quan, kỹ năng và thái độ có ảnh hưởng đến một phần quan trọng trong công việc của một người (vai trò và trách nhiệm), năng lực có liên quan với hiệu suất trong công việc, có thể được đo lường dựa vào các tiêu chuẩn nhất định, và có thể được cải thiện thông qua đào tạo và phát triển".

Trong nghiên cứu này. tác giả đã trình bày khá kỹ về những nghệ thuật, hiểu biết và phương thức điều hành của người lãnh đạo một tập thể. Đồng thời còn khẳng định có thể đo lường các năng lực này theo các tiêu chí nhất định, điều đó mở ra và cổ vũ hướng nghiên cứu đánh giá theo các phương pháp định lượng về năng lực, năng lực làm việc cũng như năng lực lãnh đạo của mỗi con người. Bernard Wynne và David Stringer (1997), trong nghiên cứu Competency Based Approach to Training and Development đã cho rằng “Năng lực làm việc được hiểu là toàn bộ kỹ năng, hiểu biết, hành vi, thái độ được tích lũy mà một người sử dụng để đạt được kết quả công việc theo mong muốn của họ”.

Như vậy năng lực là kiến thức, kỹ năng, khả năng hoặc các đặc điểm riêng của cá nhân. Năng lực được gắn với công việc, nhằm thực hiện thành công một công việc, như khả năng giải quyết vấn đề, tư duy phân tích hay khả năng lãnh đạo. Đồng thời năng lực có thể là hiểu biết, kỹ năng, thái độ hay giá trị của tính cách cá nhân. Theo nhóm tác giả này, năng lực gồm ba yếu tố chủ yếu: Hiểu biết, kỹ năng và thái độ.

Ngoài những thuộc tính trên, nó còn bao hàm các yếu tố về “giá trị của tính cách cá nhân”, cái riêng có của mỗi cá thể. Ở đây, có thể thấy tính cách cá nhân là yếu tố ổn định, khó thay đổi. Các tác giả cũng cảnh báo trong nghiên cứu cần phải coi đây là đặc trưng của từng cá nhân. Thực tế, người ta chỉ phát huy hay hạn chế tính cách, hoặc thay đổi thói quen nhưng không thay đổi tính cách một cách dễ dàng được.

Christian Batal (2002) cũng khẳng định rằng năng lực được cấu thành từ 3 yếu tố cơ bản: Kiến thức, kỹ năng và tố chất, trong đó “Kiến thức là những hiểu biết 14 chung hoặc chuyên ngành của một cá nhân cần thiết để đảm nhiệm một vị trí lao động nào đó; năng lực làm việc tương ứng với kiến thức, kỹ năng và hành vi-thái độ cần huy động để có thể thực hiện đúng đắn các hoạt động riêng của từng vị trí làm việc”. Cũng liên quan đến khái niệm năng lực, đối với Kari Yoki (2002) thì “năng lực” có nguồn gốc từ tiếng la tinh “competentia” có nghĩa là sự nhất trí hòa hợp. Nhất trí, hòa hợp ở đây hiểu theo nghĩa nhất trí hòa hợp giữa tình hình, kết quả thực hiện, nhiệm vụ và khả năng. Nói cụ thể hơn thì “năng lực là khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao”.

Khái niệm này chủ yếu nhấn mạnh đến chức năng của năng lực mà chưa đưa ra được nội hàm của năng lực, chưa chỉ ra được các yếu tố cấu thành nên năng lực. Còn năng lực làm việc là khả năng đáp ứng các yêu cầu hoặc thực hiện thành công một công việc. Năng lực này bao gồm cả năng lực nhận thức và năng lực phi nhận thức. Năng lực làm việc là một hỗn hợp bao gồm các hành động, kiến thức, giá trị và mục đích thay đổi bối cảnh.

Năng lực được hiểu là đặc tính có thể đo lường được của kiến thức, kỹ năng, thái độ, các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ và là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác. Nhóm thứ hai, theo cách tiếp cận của Anh, xem xét năng lực như là chức năng, bao gồm một tập hợp các yếu tố và tiêu chuẩn gắn với vị trí việc làm và tiêu chuẩn nghề nghiệp. Cách tiếp cận này bắt nguồn từ những năm 1980 tại Anh bằng việc Chính phủ giới thiệu cách tiếp cận năng lực để thiết lập một hệ thống về trình độ việc làm thống nhất trên toàn quốc. Trên cơ sở đó, Frank (1991) đã xác định ra các tiêu chuẩn quản lý dựa trên phát triển và thử nghiệm hơn 3000 nhà quản lý trên một loạt các lĩnh vực.

Tiêu chuẩn nghề nghiệp xác định vai trò chính, sau đó được chia thành một số đơn vị năng lực, và các tiêu chí thực hiện được xác định nhằm hình thành cơ sở cho việc đánh giá. 15 Boam và Sparror (1992) cho rằng, năng lực cũng tương tự như vòng đời, bởi vì các năng lực khác nhau sẽ có sự quan trọng khác nhau trong các giai đoạn khác nhau trong vòng đời của một tổ chức. Nhóm tác giả này đã phân ra 4 loại năng lực, mỗi năng lực có thời hạn sử dụng riêng gồm: Năng lực “emerging”, năng lực “maturing”, năng lực chuyển đổi và năng lực lõi. Trong đó, các năng lực “emerging” là những năng lực có thể không quan trọng ở hiện tại nhưng sẽ trở nên quan trọng hơn trong tương lai.

Các “năng lực chuyển đổi” là các năng lực đóng vai trò quan trọng trong suốt cả quá trình. Ngoài 2 cách tiếp cận cơ bản trên, các tranh luận về nội hàm thuật ngữ năng lực vẫn diễn ra nhằm yêu cầu về một cách tiếp cận toàn diện hơn, trong đó theo Hodkinson và Issitt (1995), năng lực là tích hợp kiến thức, hiểu biết, giá trị và các kỹ năng “cư trú bên trong người là học viên”. Tương tự, Cheetham và Chivers (1996, 1998) đã phát triển một mô hình chuyên nghiệp toàn diện năng lực, bao gồm năm bộ năng lực (năng lực nhận thức, năng lực chức năng, năng lực cá nhân, năng lực đạo đức và siêu năng lực) và các liên kết giữa năng lực này. 16 Như vậy, năng lực là gì? Qua tổng quan một số công trình nghiên cứu trên, theo quan niệm của tác giả có thể hiểu một cách tổng quát: Năng lực được hiểu là kiến thức, kỹ năng, khả năng và hành vi mà mỗi con người lao động cần phải có để đáp ứng yêu cầu công việc, và nó chính là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác.

Năng lực của con người được ví như như một tảng băng trôi, bao gồm 2 phần: Phần nổi và phần chìm. - Phần nổi chiếm 10% - 20%: Đây là nền tảng được giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm, kỹ năng, cảm xúc thật… có thể nhìn thấy được thông qua các hình thức quan sát, phỏng vấn, đánh giá và theo dõi sổ sách. - Phần chìm chiếm 80% - 90%: Là phong cách tư duy (Thinking style), đặc tính hành vi (Behavioral traits), sở thích nghề nghiệp (Occupational interests), sự phù hợp với công việc (Job fit). còn tiềm ẩn, chỉ được phát hiện và phát huy trong quá trình làm việc tại cơ quan, doanh nghiệp nào đó.

Tóm lại, năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo hay các phẩm chất tâm lý của mỗi cá nhân đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc kết hợp tốt với các yếu tố về kiến thức và kỹ năng của từng cá thể để thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định. Năng lực có những biểu hiện như tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hành động mới nào đó. Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau (điều kiện hoạt động, vốn kiến thức ban đầu, kinh nghiệm…). Năng lực gắn bó chặt chẽ với tính định hướng chung của nhân cách.

Những tổng kết này sẽ là cơ sở ban đầu cho việc hình thành khung nghiên cứu của luận án. Về năng lực lãnh đạo Vấn đề năng lực lãnh đạo đã được đề cập trên thế giới từ những năm 1955, người được coi là đặt nền móng cho lĩnh vực nghiên cứu này là Robert Kantz. Quan điểm của Kantz (1955) lãnh đạo là những người bình thường đã qua rèn luyện, khác với các quan niệm về nhà lãnh đạo lúc bấy giờ (nhà lãnh đạo giỏi là dựa vào các đặc điểm tính cách bẩm sinh). Kể từ đó, các nghiên cứu về năng lực lãnh đạo đã được 17 thực hiện rất nhiều, đặc biệt giai đoạn những năm 1990.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Luận án về nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ" của tác giả Trần Văn Thành, dưới sự hướng dẫn của PGS. Trần Thị Vân Hoa, được thực hiện tại Viện Chiến lược Phát triển vào năm 2019. Bài luận án này tập trung vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng, một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Nội dung của luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng năng lực lãnh đạo hiện tại mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả quản lý trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý nhà nước và các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn về quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo tại Việt Nam giai đoạn hiện nay, nơi đề cập đến quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, một lĩnh vực có liên quan mật thiết đến năng lực lãnh đạo. Bên cạnh đó, Luận văn về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch tại tỉnh Ninh Bình cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau. Cuối cùng, Luận Văn Thạc Sĩ Về Quản Lý Đầu Tư Công Tại Thành Phố Sông Công, Tỉnh Thái Nguyên sẽ cung cấp thêm thông tin về quản lý đầu tư công, một khía cạnh quan trọng trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề quản lý nhà nước và lãnh đạo trong bối cảnh hiện nay.