CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất.
Nó cũng được xem là sức lao động của con người – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp [3,tr. Nhân lực của doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và huy động được cho việc thực hiện, hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp còn gần nghĩa với sức mạnh của lực lượng lao động; sức mạnh của đội ngũ người lao động; sức mạnh của đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức của doanh nghiệp. Sức mạnh đó là sức mạnh hợp thành từ khả năng lao động của tất cả những người lao động.
Khả năng lao động của một con người là khả năng đảm nhiệm, thực hiện, hoàn thành công việc bao gồm các nhóm yếu tố: sức khỏe, trình độ, tâm lý, mức độ cố gắng [4,tr. Như vậy nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của mỗi cơ thể con người và đến một lúc nào đó, con người có điều kiện tham gia vào quá trình lao động, sức lực đó trở thành sức lao động [2,tr. Ngày nay, ngoài khả năng về thể lực và trí lực nêu trên, người ta còn quan tâm đến năng lực phẩm chất của người lao động, hay còn gọi là tâm lực, được biểu hiện qua các yếu tố như tính năng động, sáng tạo, thái độ làm việc, Luan van - - 7 tự tin, tinh thần trách nhiệm với cá nhân, tổ chức [2,tr,10].
Nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, cho đến nay quan niệm về vấn đề này hầu như chưa thống nhất. Tùy theo mục tiêu cụ thể mà người ta có nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực. Có thể nêu lên một số quan niệm như sau: - Nguồn nhân lực là tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển của người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tuơng lai tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới [6,tr.
- Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới [1, tr. - Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định [8, tr. Qua các quan niệm nêu trên có thể hiểu: Nguồn nhân lực là một khái niệm mang tính tổng hợp các đặc tính số lượng và chất lượng về nguồn nhân lực, được mô tả bởi quy mô và cơ cấu theo đặc điểm giới tính, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề hay một đặc tính nào khác. Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con nguời, gồm cả phẩm chất, trình độ chuyên môn, kiến thức, óc sáng tạo, năng lượng, nhiệt huyết và kinh nghiệm sống của con người nhằm đáp ứng cơ cấu kinh tế- xã hội.
Luận văn nghiên cứu giải pháp về phát triển nguồn nhân lực trong Luan van - - 8 ngành Thuế. Do vậy, khi nói về nguồn nhân lực trong luận văn thì đó là tổng thể các tiềm năng lao động của ngành Thuế. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Khái niệm phát triển nguồn nhân lực ngày càng được hoàn thiện và tiếp cận theo những góc độ khác nhau: - Phát triển nguồn nhân lực đề cập đến kinh nghiệm học tập có tổ chức do người chủ doanh nghiệp tài trợ. Nó được thiết kế và thực hiện với mục tiêu nâng cao kết quả thực hiện công việc và cải thiện điều kiện con người thông qua việc đảm bảo kết hợp với mục tiêu của tổ chức và mục tiêu cá nhân.
- Phát triển nguồn nhân lực xét về góc độ xã hội là quá trình tăng lên về số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý. Phát triển nguồn nhân lực xét về góc độ cá nhân là quá trình làm cho con người trưởng thành, có năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao. - Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển [10, tr. Qua một số quan niệm trên thì có thể hiểu: Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là làm sao đảm bảo được quy mô số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp phù hợp hiện tại và sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, đòi hỏi nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và khả năng quản lý của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phải kết hợp hình thức giáo dục, kinh nghiệm nghề Luan van - - 9 nghiệp, các mối quan hệ, đánh giá nhân cách và năng lực để giúp cho nhân viên chuẩn bị cho tương lai nghề nghiệp của mình. Nguồn nhân lực Ngành Thuế là những cán bộ, công chức Thuế, là những người làm trong Công sở Thuế và được bố trí những nhiệm vụ phù hợp với trình độ đào tạo, được sử dụng quyền lực của Nhà nước để thực thi công vụ công chức trong các Công sở Thuế trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định. Cán bộ công chức - lực lượng quan trọng trong hệ thống nhân sự để phát triển đất nước. Công chức là những người được đào tạo cơ bản, lao động của họ là lao động trí tuệ, lao động quản lý, có quan hệ trực tiếp đến quốc kế dân sinh và được xếp vào loại lao động quyền lực.
Ý nghĩa của phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là điều kiện quyết định để một tổ chức tồn tại và phát triển: - Phát triển nguồn nhân lực làm tăng sự ổn định và năng động của tổ chức, doanh nghiệp, đảm bảo giữ vững hiệu quả hoạt động kinh doanh ngay cả khi thiếu các nguồn nhân lực chủ chốt do có nguồn lực thay thế. - Phát triển nguồn nhân lực giúp cho người lao động trong doanh nghiệp thực hiện công việc tốt hơn như: + Phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, tạo tiền đề cho việc nâng cao hơn nữa năng suất và chất lượng lao động, nhờ đó giúp cho người lao động tự tin hơn, làm chủ được các phương tiện khoa học kỹ thuật tiên tiến trong quá trình đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp, do vậy, làm việc có hiệu quả hơn. + Phát triển nguồn nhân lực còn góp phần thỏa mãn nhu cầu thành đạt của người lao động, và qua đó kích thích họ vươn lên những đỉnh cao nghề nghiệp, tăng động lực làm việc cũng như nâng cao niềm tự hào về nghề nghiệp của bản thân và gắn bó hơn với tổ chức. Luan van - - 10 - Làm tốt được việc phát triển đội ngũ cán bộ trong bộ máy công quyền, nhiều việc khác mới hy vọng làm tốt được, mọi người khác mới có điều kiện phát huy được mình.
Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực Mục tiêu của phát triển nguồn nhân lực là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý thuế trong giai đoạn hiện nay là một việc làm cấp thiết và quan trọng của Ngành thuế. Bởi vì đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ thuế nói riêng là lực lượng nòng cốt cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân làm nên những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. NỘI DUNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Phát triển nguồn nhân lực là một trong những hoạt động quan trọng của quản trị nguồn nhân lực.
Quản trị nguồn nhân lực được phân chia thành các hoạt động: (a) Hoạch định nguồn nhân lực; (b) Phân tích và thiết kế công việc; (c) Tuyển mộ và lựa chọn; (d) Đánh giá thành tích; (e) Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; (f) Thù lao; (g) Mối quan hệ lao động. Tất cả các hoạt động này không tồn tại một cách cá biệt nhau mà có mối quan hệ mật thiết với nhau. Do đó, nội dung phát triển nguồn nhân lực là sự kết nối xâu chuỗi các hoạt động của quản trị nguồn nhân lực, qua mỗi hoạt động có thể đánh giá tương đối chính xác thực trạng nguồn nhân lực của tổ chức, doanh nghiệp. Căn cứ vào mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp để có giải pháp duy trì, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chung của doanh nghiệp về số lượng, Luan van - - 11 quy mô, cơ cấu,.xét về tổng thể là nâng cao năng lực, hiệu quả làm việc, năng suất lao động của người lao động trong doanh nghiệp.
Muốn nâng cao chất lượng thực thi công vụ của cán bộ công chức thì phải chú trọng cải thiện từ năng lực làm việc của cán bộ công chức đến môi trường tổ chức trong cơ quan cũng như cách thức tổ chức công việc và các chế độ, chính sách nhằm động viên khuyến khích đội ngũ cán bộ công chức hăng say, nhiệt tình làm việc đạt yêu cầu cao. Do đó, phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp, tổ chức đồng thời tiến hành các nội dung chính như sau: 1.