Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài 1. Các công trình nghiên cứu trong nước về nguồn nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững 1. Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực cho phát triển Đã có nhiều công trình, các cuốn sách, đề tài, hội thảo, luận án, các đề án nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực (NNL) và NNL cho phát triển từ nhiều góc độ khác nhau, cụ thể: - Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”, tạp chí Cộng sản, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật cùng phối hợp tổ chức tháng 8 năm 2012.[75] Kỷ yếu tổng hợp 71 bài viết, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học uy tín với ba nhóm nội dung, cụ thể: Nhóm bài viết về những vấn đề lý luận phát triển NNL đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế; Nhóm bài viết về thực trạng phát triển NNL đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế; Nhóm bài về những khuyến nghị, giải pháp phát triển NNL đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
Nhìn chung, các bài viết đã đề cập tới vai trò, phân tích thực trạng, quan điểm và giải pháp phát triển NNL. Trong đó nhấn mạnh đến NNL chất lượng cao nhưng cũng mới chỉ tập trung vào phát triển NNL nói chung. Bên cạnh đó có một số bài viết về NNL cho doanh nghiệp hoặc một tỉnh. Tuy nhiên chưa có bài viết hoặc bài nghiên cứu nào đề cập tới phát triển NNL cho từng vùng kinh tế cụ thể.
- Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Đào tạo nhân lực trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế” do Trung tâm phân tích và dự báo nhu cầu đào tạo nhân lực – Viện Khoa học giáo dục Việt Nam tổ chức tháng 10 năm 2013.[114] Trong kỷ yếu hội thảo đã tập hợp được 41 bài viết, bài nghiên cứu về đào tạo, phát triển NNL trong thời kỳ hội nhập và đẩy mạnh CNH, HĐH của Việt Nam. Các công trình đã 20 nêu một cách đầy đủ về nhu cầu NNL đã qua đào tạo, đặc biệt trong bối cảnh nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Nhìn chung các bài viết đã đi sâu làm rõ vấn đề lý luận về mặt giáo dục và đào tạo NNL, đưa ra những dự báo nhu cầu NNL trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên các bài viết này chưa có công trình đi sâu nghiên cứu đào tạo NNL cho một ngành, một vùng kinh tế cụ thể.
- Vũ Văn Phúc và Nguyễn Duy Hùng đồng chủ biên (2012): “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập”[65], Nxb Chính trị quốc gia. Trong công trình này nhóm tác giả đã đề cập đến những quan điểm về phát triển nguồn lực con người. Các cách tiếp cận về NNL, các vấn đề về lý luận và thực tiễn quá trình phát triển NNL, vai trò của NNL trong đó nhấn mạnh tới NNL chất lượng cao trong quá trình thúc đẩy thực hiện CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI. Từ các kinh nghiệm ở một số quốc gia có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng các tác giả đã chỉ ra bài học cho Việt Nam, làm rõ những tồn tại trong quá trình phát triển NNL của Việt Nam những năm qua, đặc biệt là những tồn tại trong phát triển NNL chất lượng cao cả về mặt số lượng và mặt chất lượng.
Từ những nguyên nhân của tồn tại các tác giả đã đưa ra những quan điểm, định hướng, giải pháp nhằm phát triển NNL đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế trong những năm tới. Tuy nhiên công trình này các tác giả mới chỉ phân tích phát triển NNL với quá trình CNH, HĐH và hội nhập nói chung mà chưa cho thấy sự phát triển NNL gắn với quá trình phát triển của từng vùng lãnh thổ hoặc từng lĩnh vực nhất định. - Luận án tiến sĩ: “Phát triển nguồn nhân lực ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nước ta” của Trần Phương Anh (2012).[1] Theo tác giả nghiên cứu NNL trong điều kiện mới không chỉ dưới góc độ nguồn lực cho sự phát triển mà còn nghiên cứu dưới góc độ một nguồn vốn phát triển, nguồn vốn nhân lực có quan hệ mật thiết với khái niệm nguồn vốn truyền thống, thị trường lao động và nền kinh tế thị trường,. Nhìn chung, qua luận án tác giả đã hệ thống hóa làm rõ các vấn đề mang tính lý luận từ đó đưa ra quan điểm về phát triển NNL trong mối quan hệ giữa thể lực, trí lực và nhân cách, lòng trung thành, niềm tin,… Vấn đề sử dụng NNL được 21 xem như là yếu tố phát huy tối đa tiềm lực con người.
Luận án chỉ ra những đặc điểm mang tính đặc thù riêng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, những yêu cầu và đề xuất những giải pháp nhằm phát triển nguồn lực này trên cả phương diện: NNL và nguồn vốn nhân lực cho phát triển trong bối cảnh mới. Tuy nhiên, luận án mới chỉ đề cập phát triển nguồn lực vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nói chung chưa đề cập đến nguồn lực cho phát triển một ngành kinh tế hoặc một quá trình phát triển cụ thể. - Luận án tiến sĩ: “Giáo dục - đào tạo với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay” của Lương Công Lý (2014).[53] Nhìn nhận từ góc độ triết học tác giả đã làm rõ những vấn đề cơ bản về mặt lý luận như thế nào là nguồn nhân lực chất lượng cao, vai trò, sự cần thiết phát triển NNL chất lượng cao, phát triển giáo dục đào tạo gắn với phát triển NNL chất lượng cao. Luận án đã phân tích chỉ ra thực trạng của giáo dục và đào tạo với phát triển NNL chất lượng cao.
Từ những thành tựu và tồn tại trên luận án đã đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của giáo dục - đào tạo với việc phát triển NNL chất lượng cao ở Việt Nam trong những năm tiếp theo. Tuy nhiên dưới góc độ triết học tác giả chưa làm rõ được quan hệ về mặt lợi ích của các chủ thể tham gia phát triển giáo dục – đào tạo, vai trò của Nhà nước trong phát triển giáo dục - đào tạo nhằm phát triển NNL chất lượng cao. - Luận án tiến sĩ: “Nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng” của Nguyễn Thị Kim Nguyên (2015).[58] Luận án đã đề cập NNL cho quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn (CNH, HĐH NN, NT), làm rõ vai trò của NNL phục vụ CNH, HĐH khu vực NN, NT và những yêu cầu của quá trình CNH, HĐH khu vực NN, NT đối với NNL. Xây dựng các tiêu chí đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm để phát triển NNL phục vụ CNH, HĐH khu vực NN, NT.
Tác giả cũng đã chỉ ra NNL nào phục vụ cho CNH, HĐH NN, NT. Những đánh giá trên có ý nghĩa rất lớn cho phát triển NNL khu vực NN, NT nói chung. Dưới góc độ kinh tế chính trị tác giả cũng đã đề cập tới mặt sở hữu và lợi ích giữa các bên, tuy nhiên tác giả mới dừng lại ở quá trình CNH, HĐH khu vực NN, NT mà chưa đề cập đến mối quan hệ giữa phát triển NNL với phát triển nông 22 nghiệp bền vững (PTNNBV) của khu vực Đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB) hiện nay cả về mặt quan hệ sở hữu cũng như quan hệ về mặt lợi ích và vai trò của Nhà nước trong quá trình phát triển, đây là một khoảng trống cần tiếp tục được nghiên cứu làm rõ. Ngoài các cuốn sách, đề tài, kỷ yếu hội thảo, luận án đã nêu còn có nhiều bài báo nghiên cứu về NNL đăng trên các tạp chí uy tín như: Bài “Phát triển NNL chất lượng cao ở Việt Nam trong điều kiện của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0” của tác giả Nguyễn Thị Tùng Lâm đăng trên tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội số 9 năm 2017; Bài “Khai thác nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Diệu Linh đăng trên tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội số 6 năm 2017; Bài “Thành công và thách thức trong phát triển bền vững NNL ở nước ta hiện nay” của nhóm tác giả Nguyễn Đức Chiện, Văn Thị Hoàn và Lê Thị Thu Hương đăng trên tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội số 3 năm 2017; Bài “Những yêu cầu cơ bản của người lao động trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại” của tác giả Lê Thị Chiên đăng trên tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội số 2 năm 2017;… Nhìn chung, các công trình trên chủ yếu tiếp cận từ quan điểm coi NNL là nguồn lực con người hay nguồn vốn nhân lực cho sự phát triển.
Các công trình tiếp cận dưới góc độ triết học, kinh tế chính trị, quản lý kinh tế,. khác nhau nên có công trình đã đi sâu phân tích dưới góc độ thế giới quan, nhân sinh quan về sự phát triển NNL. Có công trình phân tích từ quan hệ sở hữu, lợi ích mặt kinh tế hay vai trò của Nhà nước từ khung lý thuyết tới các quan điểm, chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng, xây dựng hệ thống những tiêu chí đánh giá tới thực trạng phát triển NNL về cơ cấu, số lượng, chất lượng, kỹ năng lao động và đề xuất những giải pháp phát triển nâng cao chất lượng NNL cho quá trình phát triển. Tuy nhiên, trước yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế, dưới sự tác động của KHCN đang phát triển mạnh mẽ, của quá trình già hóa và sự di cư dân số, thì dưới các góc độ triết học, quản lý kinh tế,.
Các công trình trên chưa phân tích làm rõ được quan hệ sở hữu, mối quan hệ về mặt lợi ích, vai trò của Nhà nước trong quá trình phát triển NNL ở từng giai đoạn. Do đó, dưới góc độ kinh tế chính trị cần làm rõ quan hệ về sở hữu, mối quan hệ về mặt lợi ích, vai trò của Nhà nước trong quá trình phát 23 triển NNL thông qua hệ thống các tiêu chí đánh giá, nội dung phát triển cho phù hợp với yêu cầu của bối cảnh mới.