Chương 1: Cơ sở lí luận về phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa Chương 2. Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong các DNNVV tại tỉnh Bắc Ninh Chương 3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong các DNVVN tại tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020. Ngoài ra, tiểu luận còn có kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nguồn nhân lực Đến nay các giáo trình đang được giảng dạy ở Việt Nam đưa ra định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực. Theo giáo trình nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động – Xã hội do PGS – TS Nguyễn Tiệp chủ biên, in năm 2005 thì: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [9, Tr.
Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [9, Tr. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội. Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS - TS.
Trần Xuân Cầu, PGS – TS. Mai Quốc Chánh chủ biên, in năm 2008 thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [1, Tr. “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [7, Tr.
Những khái niệm nêu trên chỉ nguồn nhân lực ở phạm vi vĩ mô của nền kinh tế. Tuy nhiên đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong các DNVVN. Vậy trong phạm vi doanh nghiệp, nguồn nhân lực được hiểu như thế nào? Theo sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội do GS. Bùi Văn Nhơn chủ biên, xuất bản năm 2006 thì: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [8, Tr 72].
7 z Theo giáo trình Quản trị nhân lực do PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân và Ths. Nguyễn Vân Điềm làm chủ biên, năm 2004 thì khái niệm này được hiểu như sau: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [ 2, Tr 8]. Khái niệm này chưa nêu rõ sức mạnh tiềm ẩn của nguồn nhân lực trong một tổ chức nếu họ được động viên, phối hợp tốt với nhau. Vì vậy, khái niệm nguồn nhân lực có thể được hiểu như sau: Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó có sức khỏe và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu họ được động viên, khuyến khích phù hợp.
Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Về phát triển nguồn nhân lực cũng có nhiều khái niệm khác nhau ở góc độ nghiên cứu khác nhau như: - Theo Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo: Kinh nghiệm Đông Á, Viện Kinh tế thế giới, năm 2003. “Phát triển nguồn nhân lực, xét từ góc độ một đất nước là quá trình tạo dựng lực lượng lao động năng động có kỹ năng và sử dụng chúng có hiệu quả, xét từ góc độ cá nhân là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động và thu nhập. Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất. Kiến thức có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu kinh nghiệm, trong khi đó thể lực có được nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chế độ chăm sóc y tế tốt [10, Tr.
Khái niệm này xem xét phát triển nguồn nhân lực của đất nước, từ đó khuyến nghị cho nhà nước những chính sách về giáo dục, đào tạo, y tế để phát triển nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô. - Theo sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội do GS. Bùi Văn Nhơn chủ biên, xuất bản năm 2006 8 z “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển” [2, Tr. Trong khái niệm này chất lượng nguồn nhân lực được giải thích như sau: “Thể lực của nguồn nhân lực: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần” [2, Tr.
“Trí lực của nguồn nhân lực: trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động” [2, Tr. “Phẩm chất tâm lý xã hội: kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao. “Chỉ tiêu tổng hợp: Tổ chức phát triển Liên hợp quốc đã khuyến nghị và đưa ra chỉ số để đánh giá sự phát triển con người HDI (HDI được tính từ 0,1-1). Theo phương pháp này thì sự phát triển con người được xác định theo ba yếu tố cơ bản và tổng hợp nhất: - Sức khỏe: Tuổi thọ bình quân của dân số.
- Trình độ học vấn:Tỷ lệ dân số biết chữ; số năm đi học của một người. - Thu nhập: Tổng sản phẩm trong nước GDP/người [2, Tr. - Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS - TS. Trần Xuân Cầu, PGS – TS.
Mai Quốc Chánh chủ biên, in năm 2008: “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá; truyền thống lịch sử. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm cho con người trưởng thành, có năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao” [1, Tr 104]. Khái niệm này chỉ quá trình phát triển nguồn nhân lực để cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước nói chung.
Nếu áp dụng khái niệm này vào trong doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực là sự thay đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động thì sẽ có trùng lắp với một số biện pháp của quản trị nhân lực trong doanh nghiệp. 9 z - Theo giáo trình Quản trị nhân lực, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2004. “Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng)là tổng thể các hoạt động có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động” [2, Tr 161]. Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở Việt Nam trước đây có nhiều khái niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tuy nhiên, từ khi có Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 về trợ giúp phát triển DNNVV thì định nghĩa DNNVV đã được hiểu thống nhất: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở sản xuất - kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 lao động” [140]. Như vậy tiêu chí để xác định DNNVV là: - có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng (khoảng 650.000 USD), hoặc - có số lượng lao động dưới 300 người. Theo Điều 4: "Nghị định này áp dụng đối với các DNNVV bao gồm: Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp ; Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước; Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã ; Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 của của Chính phủ" (Nghị định này được thay thế bởi Nghị định 109/2004/NĐ-CP). Bên cạnh khái niệm trên, trong một số trường hợp người ta còn dùng thêm khái niệm doanh nghiệp cực nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa như sự phân loại của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: “Doanh nghiệp cực nhỏ và nhỏ là các cơ sở kinh doanh có số lao động ít hơn 50 người.
Các doanh nghiệp có số lao động từ 1 đến 9 người là doanh nghiệp cực nhỏ. Các doanh nghiệp có số lao động từ 10 đến 49 người là doanh nghiệp nhỏ. Với khái niệm này, thì những doanh nghiệp có số lao động từ 50 đến 299 người thì được coi là doanh nghiệp vừa. Tuy nhiên, trong vài năm qua khái niệm DNNVV của nghị định 90 này có nhược điểm “Có những doanh nghiệp có số lao động lớn hơn 300 người (có trường hợp lên đến 500, 600 người), nhưng vì số vốn đăng kí dưới 10 tỷ đồng 10 z nên vẫn được coi là DNNVV.
Ngược lại, có những doanh nghiệp có số vốn lên đến 100 tỷ đồng nhưng có số lao động dưới 300 người cũng được coi là DNNVV”. Mặt khác, khái niệm DNNVV không phân theo lĩnh vực sản xuất cũng có hạn chế, vì “lĩnh vực sản xuất thì 10 tỷ đồng là ít, nhưng một số lĩnh vực dịch vụ thì là nhiều. Điều này sẽ làm cho việc vận dụng chính sách hỗ trợ cụ thể cho các DNVVN gặp nhiều khó khăn.