CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. Nguồn nhân lực trong tổ chức 1.1 Nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực sống, là thực thể thống nhất của cái sinh vật và cái xã hội khi xét về ý nghĩa sinh học, khi xét về ý nghĩa kinh tế thì nguồn nhân lực là tổng hợp các năng lực lao động trong mỗi con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã được chuẩn bị ở mức độ nhất định và có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, vùng địa phương cụ thể. Trong doanh nghiệp, theo GS.TS Bùi Văn Nhơn: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” (2,72) – sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội xuất bản năm 2006. Trong tổ chức, theo giáo trình Quản trị nhân lực của Đại học kinh tế quốc dân, do Thạc sĩ Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân chủ biên (năm 2004): “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người ,mà nguồn lực này bao gồm trí lực và thể lực” (24,tr8) Nguồn nhân lực của xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng có khả năng hoặc sẽ tham gia lao động.
Khi đề cập đến nguồn nhân lực người ta thường nói đến số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực. Số lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và độ tuổi lao động. Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào sự nghiệp giáo dục, đào tạo và thể chất người lao động, yếu tố di truyền, nhu cầu sử dụng lao động ở địa phương. Trong một chừng mực nào đó, nguồn nhân lực đồng nghĩa với nguồn lao động, nhưng nói về nguồn nhân lực là nói đến chất lượng của lao động.
Chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức là mức độ đáp ứng, phù hợp về chất lượng nhân lực theo các loại cơ cấu mà tổ chức thu hút, huy động được với chất lượng nhân lực theo các cơ cấu nhân lực đó mà hoạt động của tổ chức yêu cầu. 7 Để đánh giá nguồn nhân lực người ta thường đánh giá về số lượng nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện các chỉ tiêu chủ yếu sau: + Chỉ tiêu về trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực: một người có sức khỏe không đơn thuần là người đó không có bệnh tật mà sức khỏe ở đây được hiểu theo định nghĩa chung nhất chính là trạng thái thoải mái về vật chất, tinh thần, là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần. Tình trạng sức khỏe được đánh giá qua một số chỉ tiêu như tuổi thọ bình quân, chiều cao và cân nặng trung bình của người lao động, phân loại sức khỏe, dân số trong độ tuổi lao động không có khả năng lao động và suy giảm sức khỏe, một số chỉ tiêu về y tế, bệnh tật… + Chỉ tiêu về trình độ văn hóa của nguồn nhân lực: Chỉ tiêu này rất quan trọng khi phản ánh chất lượng nguồn nhân lực.
Trình độ văn hóa cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ vào thực tiễn. Những chỉ tiêu về trình độ văn hóa bao gồm: tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ lệ đi học chung, tỷ lệ đi học ở các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông… + Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn, kỹ thuật của nguồn nhân lực: trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn, khả năng chỉ đạo quản lý từng công việc chuyên môn nhất định. Trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực chủ yếu được đo bằng tỷ lệ cán bộ cao đẳng, tỷ lệ cán bộ đại học, tỷ lệ cán bộ trên đại học… + Chỉ số phát triển con người (HDI). Chỉ số này chính là thước đo tổng hợp sự phát triển con người trên ba phương diện là sức khỏe, tri thức và thu nhập.
Ba phương diện này phản ánh các khía cạnh: một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh được đo bằng tuổi thọ trung bình, kiến thức được đo bằng tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học, trung học và đại học, mức sống được đo bằng GDP thực tế đầu người… Chỉ số HDI không những đánh giá sự phát triển con người về mặt kinh tế mà còn đề cập và tập trung vào chất lượng cuộc sống cũng như sự công bằng trong xã hội. 8 + Một số chỉ tiêu khác: ngoài những chỉ tiêu có thể lượng hóa như trên, còn có nhiều chỉ tiêu định tính để thể hiện năng lực phẩm chất của người lao động thông qua qua các mặt như truyền thống dân tộc bảo vệ Tổ quốc, truyền thống về văn hóa, văn minh dân tộc, phong tục tập quán, lối sống… Số lượng nguồn nhân lực được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu chủ yếu sau: tỷ lệ nguồn nhân lực trong dân số, tỷ lệ lực lượng lao động trong dân số, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người trong độ tuổi lao động , tỷ lệ lao động có việc làm trong lực lượng lao động.2 Nguồn nhân lực trong tổ chức- cơ quan hành chính Nhà nước Cơ quan hành chính Nhà Nước được thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, nghĩa là thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành. Hoạt động chấp hành và điều hành là hoạt động được tiến hành trên cơ sở Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh để thực hiện pháp luật. Hoạt động của cơ quan hành chính Nhà Nước mang tính thường xuyên, liên tục và tương đối ổn định, là cầu nối trực tiếp nhất đưa đường lối, chính sách pháp luật vào cuộc sống.
Cơ quan hành chính nhà nước là hệ thống rất phức tạp, có số lượng đông đảo nhất, có mối liên hệ chặt chẽ, tạo thành một hệ thống thống nhất từ Trung ương đến địa phương và chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của một trung tâm thống nhất là Chính phủ. Thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước chỉ giới hạn trong phạm vi của hoạt động chấp hành và điều hành. Các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hoặc gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước và chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ quan quyền lực nhà nước tương ứng và chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực đó. Cán bộ, công chức nhà nước: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện trong biên chế và hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước (điều 4, khoản 1 Luật cán bộ công chức năm 2008) 9 Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (điều 4, khoản 1 Luật cán bộ công chức năm 2008) Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (điều 2, luật viên chức năm 2010) 1.3 Đặc điểm nguồn nhân lực cán bộ công chức trong tổ chức Là một đội ngũ chuyên nghiệp: Bộ máy Nhà nước có chức năng tổ chức, quản lý, điều hành xã hội, giải quyết các mối quan hệ đối nội, đối ngoại phức tạp, các vấn đề đặt ra trong xã hội nhằm đảm bảo cho xã hội ổn định và phát triển.
Do đó, tính chuyên nghiệp của cán bộ công chức được quy định bởi địa vị pháp lý và bao gồm các yếu tố như: có năng lực, trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng nghiệp vụ hành chính, có thời gian, thâm niên công tác để thực thi công vụ. Là người thực hiện công quyền: Công vụ là loại lao động đặc thù để thể hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống, nhằm quản lý sử dụng có hiệu quả tài sản chung và nguồn ngân sách của nhà nước để phục vụ nhiệm vụ chính trị. Công vụ thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân và tổ chức xã hội. Đây là mối quan hệ của quyền lực, trong đó công dân, tổ chức phải phục tùng quyết định của người thực hiện công vụ, công chức đang thực thi công quyền, phục vụ công quyền trong một thẩm quyền cụ thể nhất định.
Thẩm quyền lớn hay bé phụ thuộc vào tính chất công việc và cấp bậc chức vụ mà người 10 công chức được trao giữ thực hiện. Quyền hành đó có giới hạn nhất định do pháp luật quy định, công chức không thể sử dụng quyền hành đó thành điều kiện để có thể mưu lợi cá nhân. Được Nhà nước đảm bảo lợi ích khi thực thi công vụ: Khi phục vụ trong nền công vụ, công chức được nhà nước đảm bảo quyền lợi về vật chất. Cán bộ, công chức được trả lương, phụ cấp theo quy định của Nhà nước.
Cán bộ công chức được khen thưởng khi có công lao xứng đáng được tập thể xác nhận và cũng bị xử lý khi có các hành vi vi phạm quy định.