Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin. Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin tại Công ty cổ phần Sáng tạo trẻ Việt Nam Miichisoft. Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin tại Công ty cổ phần Sáng tạo trẻ Việt Nam Miichisoft. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1.
Khái niệm về nguồn nhân lực công nghệ thông tin 1. Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1. Nguồn nhân lực Nguổn nhân lực luôn là yếu tố vô cùng quan trọng, then chốt, quyết định sự tồn tại và phát triển, thành công của mỗi tổ chức hay quốc gia. Bởi vậy, trong bất kỳ tổ chức nào hay quốc gia nào thì yếu tố con người luôn được coi trọng hàng đầu, Vậy nguồn nhân lực được hiểu như nào, khái niệm này được xem xét và nghiên cứu theo những góc độ như nào? Thuật ngữ nguồn nhân lực xuất hiện vào những năn 80 của thế ký XX bởi Nhà kinh tế tiên phong John R.
Commons đã sử dụng nó trong cuốn sách “Phân phối của cải” năm 1893 khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Khi mà phương thức quản lý, sử dụng con người như lực lượng phụ thuộc, cần khai thác triệt để chuyển sang cách thức sử dụng mền mỏng, linh hoạt, luôn tạo mọi điều kiện để con người phát huy hết tiềm năng trong quá trình sử dụng lao động. Khái niệm nguồn nhân lực được khai thác, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo Nicolas Herry trong cuốn Public Administration and Public affairs (Quản trị công và vấn đề công) thì Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới.
Với cách định nghĩa này, nguồn nhân lực được hiểu là các yếu tố thể chất, tinh thần tạo nên sức mạnh, nội lực thúc đẩy sự phát triển của tổ chức. 9 Theo David Begg (David Begg, Stanley Fischer & Rudiger Dornbusch (1995), Kinh tế học, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội) “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai”. Với định nghĩa này, nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc chú trọng đầu tư vào việc phát triển, xây dựng nguồn nhân lực ngay từ ban đầu.
Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Đại học kinh tế quốc dân, do Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân chủ biên (2012) thì “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn nhân lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm trí lực và thể lực” [1,tr8]. Theo giáo trình Quản trị nhân lực tập 1 của Đại học Lao động Xã hội, Lê Thanh Hà chủ biên, “Nguồn nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của con người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực riêng của con người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức”. Có thể hiểu, nguồn nhân lực là tổng hòa các mối quan hệ cá nhân cùng hỗ trợ nhau để đạt được mục tiêu chung của tổ chức và mục tiêu của riêng từng cá nhân. Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được coi là phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững thậm chí con người còn được coi là một nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển – vốn nhân lực.
Về phương diện này Liên Hiệp Quốc cho rằng: nguồn lực con người là tất cả những kiến thức kỹ năng và năng lực con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội đất nước. 10 Ngày nay, nguồn nhân lực còn bao hàm khía cạnh về số lượng và chất lượng, không chỉ những người trong độ tuổi mà cả những người ngoài độ tuổi lao động. Quan điểm trên nhìn nhận nguồn nhân lực một cách toàn diện, coi nguồn nhân lực không chỉ trên giác độ số lượng mà còn cả về chất lượng. Theo hướng tiếp cận này, nguồn nhân lực là tất cả các kỹ năng và năng lực con người tác động tới sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội, Các nguồn lực cơ bản của sự phát triển một quốc gia bao gồm nguồn lực tài chính, nguồn lực con người và nguồn lực vật chất; trong đó, nguồn nhân lực được coi là yếu tố làm cho những yếu tố còn lại trở nên hữu dụng.
Khi thế giới đang bước vào kỷ nguyên của số, trí tuệ nhân tạo thì yếu tố con người đóng vai trò rất quan trọng, trụ cột cho sự phát triển. Từ các quan niệm được liệt kê bên trên, có thể hiểu nguồn nhân lực theo các yếu tố cấu thành như sau: Số lượng nhận lực: Nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia nào chính là có bao nhiêu người đã và đang lao động và sẽ có thêm bao nhiêu người nữa trong tương lai. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên các yếu tố nội hàm của tổ chức như nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động và những yếu tố tác động bên ngoài như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động. Chất lượng nhân lực: Chất lượng nhân lực là tổng hợp nhiều yếu tố như trình độ, sự hiểu biết, trí tuệ, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe… của người lao động.
Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực: Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các mặt khác nhau như cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi… Cơ cấu nhân lực ảnh hưởng tới việc hoạch định, xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực của mỗi tổ chức. Với việc nhấn mạnh, coi trọng chất lượng nguồn nhân lực, Liên Hợp 11 Quốc (WB. World Development Indicators, London: Oxford, 2000) đưa ra định nghĩa “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”.
Phát triển nguồn nhân lực Khi mà thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, công nghệ giúp xóa bỏ đi rào cản về địa lý, ngôn ngữ và cơ hội cho mỗi quốc gia là ngang nhau. Vì thế, việc phát triển nguồn nhân lực, đầu tư vào con người, tạo ra đội ngũ nhân lực chất lượng có trình độ cao, có khả năng tiếp thu những tri thức, công nghệ mới, sáng tạo để đưa kiến thức vào thực tiễn là nhiệm vụ mà mỗi quốc gia đều phải chú trọng đầu tư. Phát triển nguồn nhân lực hiểu theo góc độ vi mô là hoạt động đào tạo, nhưng thực tế có nghĩ rộng hơn. Theo góc độ vĩ mô phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực cho xã hội với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Phát triển nguồn nhân lực sẽ được xem xét trên hai mặt là chất và lượng: Phát triển về số lượng là sự gia tăng về số lượng và thay đổi cơ cấu của đội ngũ nhân lực theo hướng phù hợp với môi trường và điều kiện hoạt động mới, Sự thay đổi cơ cấu nhân lực của một quốc gia sẽ diễn biến theo cơ cấu độ tuổi, cơ cấu phân bổ theo khu vực. Phát triển về chất lượng: là sự gia tăng về trình độ học vẫn, trình độ chuyên môn cũng như sức khỏe của con người trong xã hội hoặc tổ chức. Thước đo để so sánh sự phát triển nguồn nhân lực qua các thời kỳ phát triển của một quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau là chỉ số phát triển con người do Liên Hợp Quốc sử dụng. Một số khái niệm về phát triển nguồn nhân lực mà tác giả thu thập như: 12 Trong luận án tiến sỹ “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo ở một số nước Đông Á – Kinh nghiệm đối với Việt Nam” (2002), Lê Thị Ái Lâm “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất” [6,tr.
Theo Bùi Văn Nhơn trong sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội xuất bản 2006: “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển” [2,tr. Từ những khái niệm bên trên, tác giả xin đưa ra quan điểm của bản thân về khái niệm phát triển nguồn nhân lực như sau: “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự thay đổi tích cực về nguồn nhân lực của tổ chức thông qua các hoạt động nhằm duy trì số lượng và cơ cấu nhân lực hợp lý; nâng cao thể lực, kiến thức, kỹ năng, phẩm chất và thay đổi văn hóa làm cho hoạt động của tổ chức ngày một hiệu quả mang lại năng suất cao nhất”. Nguồn nhân lực CNTT và đặc điểm nguồn nhân lực CNTT 1. Nguồn nhân lực CNTT Tại Quyết định số 05/2007/QĐ-BTTTT ngày 26/10/2007 của Bộ Thông tin và Truyền thông phê duyệt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT Việt Nam đến năm 2022 xác định nguồn nhân lực CNTT bao gồm nhân lực làm việc trong các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp công nghiệp công nghệ thông tin; nhân lực cho ứng dụng công nghệ thông tin; nhân lực cho đào tạo công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông và người dân sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin.