Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp. Chương 2: Thực trạng nguồn nhân lực trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang đến năm 2025. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1.
Tổng quan về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1. Một số khái niệm *Nhân lực Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về nhân lực.Mác cho rằng, sức lao động hay năng lực lao động tồn tại trong thân thể con người, tức là thân thể người sống. Mỗi khi con người sản xuất ra giá trị sử dụng nào đó thì phải vận dụng tổng hòa thể lực và trí lực. Sức lao động là tổng hòa toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể sống của con người, mà con người có thể vận dụng trong quá trình lao động sản xuất.
Như vậy, sức lao động là năng lực tồn tại trong cơ thể con người do con người chi phối. Sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Theo Đại từ điển Kinh tế thị trường thì nhân lực được hiểu là lực lượng và năng lực những người làm lao động sản xuất (bao gồm cả lao động thể lực và lao động trí tuệ) cũng tức là sức lao động. Nhân lực còn được hiểu là lực lượng lao động với kỹ năng tương ứng sử dụng các nguồn lực khác nhau tạo ra sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường và xã hội.
Thống nhất từ các các quan niệm trên, có thể tổng quan rằng, nhân lực là năng lực mà các cá nhân sử dụng vào quá trình hoạt động, bao gồm cả số lượng các cá nhân cũng như tất cả các tiềm năng của cá nhân một con người sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức hay xã hội. Nói cách khác, nhân lực là tổng hợp tất cả các cá nhân, cùng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức của họ để thành lập, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức, của xã hội. 5 *Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người, đó là nguồn sức lao động cung cấp cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, đóng vai trò tạo ra mọi giá trị về của cải vật chất, giá trị văn hóa và các công việc dịch vụ cho xã hội. Nguồn nhân lực gồm những người nằm trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có hay không làm việc, đó chính là nguồn lao động, hay còn gọi là dân số có hoạt động.
Nguồn lao động tham gia làm việc trong nền kinh tế được gọi là lực lượng lao động, hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế. Theo thuật ngữ trong tài liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: “Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, ngành hay một vùng. Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội”. Ngoài ra còn có một số khái niệm về nguồn nhân lực khác như sau: - Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh.
Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường. - Nguồn nhân lực với tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động. - Nguồn nhân lực có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
- Theo quy định của Tổng cục Thống kê, khi tính toán nguồn nhân lực xã hội còn bao gồm những người ngoài tuổi lao dộng đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Từ những khai niệm khác nhau đó, dẫn đến một số sự khác nhau trong tính toán quy mô nguồn nhân lực. Vấn đề là ở chỗ những chênh lệch đó không đáng 6 kể vì số người trong độ tuổi có khả năng lao động chiếm đa số tuyệt đối trong nguồn nhân lực. Trong luận văn này, theo tôi, nên sử dụng khái niệm: Nguồn nhân lực là yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
Với cách hiểu này nguồn nhân lực của một quốc gia hay một vùng, một khu vực bao gồm những người bắt đầu bước vào độ tuổi lao động trở lên, có thể tham gia vào nền sản xuất xã hội. Bộ Luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định những người trong độ tuổi từ đủ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ đủ 15 đến 55 tuổi đối với nữ, đều thuộc vào nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động. Nguồn nhân lực được xem xét, đánh giá trên giác độ số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những đặc trưng, phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động trực tiếp sản xuất và phát triển của con người. Đó là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực. Nghiên cứu về nguồn nhân lực phải xem xét, đánh giá cả hai mặt: chất lượng và số lượng. Xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực, nhưng những khái niệm này đều thống nhất trên cơ sở nội dung cơ bản: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia.
Các công trình nghiên cứu và thực tế phát triển của các nước đều đã khẳng định vai trò có tính chất quyết định của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Sự khẳng định này đã được trải qua thời gian kiểm nghiệm, đúc kết kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn. *Phát triển nguồn nhân lực Tùy thuộc vào quan điểm và góc độ tiếp cận khác nhau mà có các định nghĩa khác nhau về phát triển nguồn nhân lực: 7 Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao số lượng, chất lượng nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Phát triển nguồn nhân lực là quá trình trang bị thể lực, kiên thức nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhiệm công việc nhất định.
Nadler & Nadler cho rằng phát triển nguồn nhân lực và giáo dục đào tạo là những thuật ngữ có cùng nội hàm. Hai tác giả này định nghĩa: “Phát triển nguồn nhân lực là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc”. (Nadler & Nadler, 1990, tr. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”.( ILO, 2005) Đứng trên quan điểm xem “con người là nguồn vốn - vốn nhân lực”, Yoshihara Kunio cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân”.
(Yoshihara Kunio, 2000) Bên cạnh đó có định nghĩa cho rằng phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị con người trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn. để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển. Như vậy, có rất nhiều định nghĩa và quan điểm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực nhưng theo tác giả: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, của vùng.
Phát triển nguồn nhân lực chính là nâng cao vai trò 8 của nguồn lực con người trong sự phát triển kinh tế- xã hội, qua đó làm gia tăng giá trị của con người. Do đó, phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi có sự quan tâm và can thiệp của Nhà nước bằng các phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao sức lao động xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Như vậy, mặc dù có sự diễn đạt khác nhau song có một điểm chung nhất là phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển quốc gia. Phát triển nguồn nhân lực, do vậy, luôn luôn là động lực thúc đẩy sự tiến bộ và tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội.
Kinh nghiệm của nhiều nước công nghiệp hóa trước đây cho thấy phần lớn thành quả phát triển không phải nhờ tăng vốn sản xuất mà là hoàn thiện trong năng lực con người, sự tinh thông, bí quyết nghề nghiệp và quản lý.