phần mở đầu, nội dung, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng và 9 tiết. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu Trong giai đoạn hiện nay, cả nƣớc đang đẩy mạnh thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì vấn đề nguồn nhân lực chất lƣợng cao đã và đang đƣợc nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu. Cho đến nay đã có nhiều công trình đƣợc công bố với những mức độ thể hiện khác nhau trong đó có những công trình có liên quan trực tiếp đến đề tài nhƣ: “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thành phố Đà Nẵng” của TS. Dƣơng Anh Hoàng (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012);“Vấn đề xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam” (TS.
Hà Văn Ánh, Tạp chí Phát triển nhân lực, số (1) - 2007); “Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiên đại hóa ở nước ta” của Trần Kim Hải (Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1999); “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” (Đoàn Văn Khái, luận án tiến sĩ triết học, bảo vệ năm 2000); “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá về hội nhập quốc tế” tại Hội thảo khoa học - thực tiễn đăng trên Tạp chí Cộng sản số (9) 2012). “Đầu tư phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn tỉnh quảng Nam” (Nguyễn Văn Sỹ, 4 tạp chí cộng sản số (10) 2011 ); “Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay” của PGS, TS Trần Ngọc Nam (Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III, Đà Nẵng, 2012)“Vai trò của nhân tố chủ quan trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay” (Nguyễn Thị Bích Thuỷ, luận án tiến sĩ triết học, bảo vệ năm 2006) “Lại bàn về phát triển nhân lực” (Lê Bách, Tạp chí phát triển nhân lực, số (2) - 2007); “Nguồn lực và động lực cho phát triển phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020” của PGS. TS, Ngô Doãn Vịnh chủ biên, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011). “Đào tạo, bồi dưỡng và tái bồi dưỡng cán bộ, công chức là một công cụ phát triển nhân lực” (Nguyễn Thanh Bình, Tạp chí Phát triển nhân lực, số (6) - 2008; “Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam” của Bộ kế hoạch và đầu tƣ, trung tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, PGS.Nguyễn Văn Phúc, Th.S Mai Thị Thu đồng chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012) và các công trình khác.
Các luận án nói trên đã đi sâu phân tích đặc điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn vùng (hoặc tỉnh, thành); làm rõ thực trạng nguồn nhân lực ở các địa phƣơng; và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các địa phƣơng đó. Tuy nhiên, để kế thừa và vận dụng sáng tạo những thành tựu của các công trình khoa học đã nêu trên, tác giả mong muốn đóng góp một phần công sức của mình cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ hiện nay. Trên cơ sở đó, làm sáng tỏ thực trạng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở Đà Nẵng trong những năm qua. Từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở thành phố Đà Nẵng hiện nay.
5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ YẾU TỐ CON NGƢỜI TRONG LỰC LƢỢNG SẢN XUẤT 1. LÝ LUẬN LỰC LƢỢNG SẢN XUẤT TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 1. Khái niệm về lực lƣợng sản xuất Lực lƣợng sản xuất là mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên đƣợc hình thành trong quá trình sản xuất. Trình độ của lực lƣợng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục của con ngƣời với tự nhiên.
Lực lƣợng sản xuất là thể thống nhất hữu cơ giữa con ngƣời lao động với tƣ liệu sản xuất, trƣớc hết là công cụ lao động. Ngoài công cụ lao động, trong tƣ liệu sản xuất còn có đối tƣợng sản xuất. Các yếu tố cơ bản của lực lƣợng sản xuất Lực lƣợng sản xuất đƣợc cấu thành bởi hai yếu tố cơ bản đó là sức lao động và tƣ liệu sản xuất. Trong đó: - Sức lao động là chủ thể, là lực lƣợng sản xuất cơ bản, quyết định của xã hội, song để trở thành lực lƣợng sản xuất thì ngƣời lao động phải có những điều kiện sau: + Khả năng lao động: có thể lao động chân tay hoặc trí óc + Nhu cầu lao động: chủ thể đó phải có nhu cầu lao động, lao động một cách tự nguyện + Phải tham gia trực tiếp vào quá trình lao động: chủ thể đó phải là ngƣời trực tiếp tham gia vào quá trình lao động với một tinh thần trách nhiệm kỷ luật cao - Tƣ liệu sản xuất: trong đó bao gồm tƣ liệu lao động và đối tƣợng lao động 6 + Tƣ liệu lao động là một vật hay một hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con ngƣời vào đối tƣợng lao động nhằm cải biến đối tƣợng lao động theo mục đích của mình + Đối tƣợng lao động: là một bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con ngƣời tác động vào nhằm biến hình thái tự nhiên của nó phù hợp với mục đích của con ngƣời.
đối tƣợng lao động gồm có hai loại: loại có sẵn trong tự nhiên và loại đã trải qua lao động của con ngƣời 1. NGUỒN LỰC CON NGƢỜI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 1. Khái niệm về nguồn lực con ngƣời Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, „„nguồn lực‟‟ là tổng hợp toàn bộ các yếu tố, các quá trình vật chất và tinh thần đang và sẽ tạo ra năng lực, sức mạnh thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khái niệm “nguồn lực” chỉ ra khởi nguyên, cội nguồn sản sinh, nuôi dƣỡng các yếu tố, quá trình vật chất và tinh thần để tạo ra năng lực, sức mạnh của sự phát triển.
Nó không những bao gồm năng lực, sức mạnh hiện có thực tế, mà còn cả năng lực, sức mạnh dƣới dạng khả năng (tiềm năng) và khi có điều kiện nhất định sẽ trở thành hiện thực. Chẳng hạn, khi nói „„nguồn vốn‟‟ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta hiểu bao gồm cả nguồn vốn trong nƣớc (tiền mặt, tài sản có giá trị của quốc gia và của dân chúng) và nguồn vốn từ nƣớc ngoài ( ODA, FDI và các nguồn vốn khác). Đồng thời, các nguồn vốn này không phải là cố định, mà luôn đƣợc tăng lên theo quy luật phát triển của kinh tế thị trƣờng và tự do thƣơng mại nhờ có yếu tố trí tuệ và lao động sáng tạo của con ngƣời. Theo lôgíc khoa học của cách tiếp cận trên, nguồn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực con ngƣời của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ, một địa phƣơng nhất định đang và có khả năng tham gia vào quá trình phát 7 triển kinh tế - xã hội.
Theo tổ chức Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực hiện có thực tế và dƣới dạng tiềm năng của con ngƣời (lực lƣợng lao động) để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng. Trong giáo trình kinh tế lao động thì nguồn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực con ngƣời, đây là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội. nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác (nguồn lực tài nguyên, nguồn lực tài chính, công nghệ…) thể hiện ở chỗ trong quá trình vận động, nguồn nhân lực bị tác động của nhiều yếu tố nhƣ tỷ lệ sinh, tử; việc làm, môi trƣờng, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội…Chính vì vậy, nguồn nhân lực đã đƣợc các nhà nghiên cứu dƣới nhiều góc đ ộ khác nhau. Nguồn nhân lực đƣợc hiểu nhƣ là nơi sinh sản, nuôi dƣỡng và cung cấp nguồn lực con ngƣời cho phát triển.
Mặt khác, nguồn nhân lực còn đƣợc hiểu nhƣ một yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, là tổng thể những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động; tức là bao gồm những ngƣời có khả năng lao động, là một bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong nguồn nhân lực. Trong lý luận về tăng trƣởng kinh tế, nhân tố con ngƣời đƣợc đề cập với tƣ cách là lực lƣợng sản xuất chủ yếu, là phƣơng tiện để sản xuất ra của cải. Ở đây, con ngƣời đƣợc xem xét từ góc độ là những lực lƣợng lao động cơ bản nhất trong xã hội. Việc cung cấp đầy đủ và kịp thời lực lƣợng lao động theo nhu cầu của nền kinh tế, là vấn đề quan trọng nhất, bảo đảm tốc độ tăng trƣởng kinh tế - xã hội.
Liên Hợp Quốc đƣa ra khái niệm nguồn lực con ngƣời: là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của đất nƣớc. đây đƣợc coi là một yếu tố quan trọng bậc nhất trong kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Quan niệm về nguồn lực con ngƣời 8 theo hƣớng tiếp cận này có phần thiên về chất lƣợng nguồn lực con ngƣời. Theo Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ "vốn ngƣời" (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp.) mà mỗi cá nhân sở hữu.
Ở đây, nguồn lực con ngƣời đƣợc coi nhƣ một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác nhƣ tiền, công nghệ, tài nguyên, thiên nhiên. Đầu tƣ cho con ngƣời giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tƣ và đƣợc coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững. Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực cần đƣợc hiểu là số dân và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của ngƣời lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng đƣợc chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phƣơng nào đó”.
Dƣơng Anh Hoàng: “nguồn nhân lực (nguồn lực con ngƣời) là tổng hợp những phẩm chất, năng lực và sức mạnh của lực lƣợng ngƣời đang và sẽ tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc.