chương 1,điều 2, Nghị định của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học công nghệ: "nguồn lực thông tin khoa học và công nghệ bao gồm nguồn tin, nguồn nhân lực, nguồn kinh phí và cơ sở vật chất kỹ thuật có liên quan đến hoạt động thông tin khoa học va công nghệ. "[2] Với sự trình bày ở trên, có thê thấy hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất về nguồn lực thông tin. Song trong khuôn khô luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ nguồn lực thông tin quan điểm của PGS. Nguyễn Hữu Hùng.
Theo đó, nguồn lực thông tin là một dang sản phẩm trí óc, trí tuệ của con người, là phan tiềm lực thông tin có cau trúc được kiểm soát và có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình sử dụng. e Đặc trưng của nguồn lực thông tin Trong các thư viện và tại các cơ quan thông tin hiện nay, NLTT rất da dang về hình thức và phong phú về nội dung. NLTT bao gồm cả tài liệu truyền thống (tài liệu dạng giấy) và các loại tài liệu trên phương tiện hiện đại (tài liệu điện tử) và các dữ liệu được bao gói như: Cơ sở đữ liệu trực tuyến, đĩa mềm, vi phim, vi phiếu,. ` 16 Tuy đa dạng về hình thức và phong phú về nội dung, NLTT có một số đặc trưng: tính vật lý, tính cấu trúc, tính truy cập, tính chia sẻ và tính giá trị.
*Tinh vật lý NLTT phải được ghi chép trên một nền tảng vật chất nhờ một hệ thống dấu hiệu để vật hóa như giấy, đĩa, băng tu, vi tính,. Những nguồn thông tin tư liệu và phi tư liệu đó là những thực thé sống tồn tại xung quanh chúng ta và ở bên trong chúng ta. Trong bối cảnh của xã hội hiện đại, một thời đại “bùng nỗ thông tin” việc vật chất hóa các nguồn thông tin trở nên vô cùng khó khăn. Vì vậy, việc xử lí thông tin, ghi lại và quản trị thông tin trước một khối lượng thông tin khổng lồ như hiện nay cần phải đầu tư nhiều về nhân lực và vật lực,.
*Tinh cầu trúc Cấu trúc tính của NLTT là một yếu tố rat cần thiết. Bởi vì, NLTT muốn kiểm soát được thì phải có tính cấu trúc, đó là những thông tin được ghi lại theo những thé thức và tiêu chuan nhất quán (về nội dung và hình thức) đảm bảo cho việc bảo quản, khai thác và sử dụng cách dễ dàng, thuận lợi. Điền hình của tính cấu trúc của NLTT là tính phân cấp trong tổ chức dữ liệu: trật tự của các yêu tố dit liệu trong kho hay các biểu ghi trong cơ sở dữ liệu đều phải dự vào nguyên lý ngôi thứ, quan hệ hay mạng dữ liệu nội dung hoặc hình thức của tài liệu *Tinh truy cập Một đặc tính khác của thông tin là tính truy cập. Thông tin được truy cập là những thông tin cung cấp giá trị cho con người trong hoạt động thực tiễn.
Thông tin chỉ có giá trị khi nó được truyền đi, phổ biến và sử dụng. Con người luôn cần tìm kiếm thông tin, thông tin phải được truy cập, phải được chạm tới, phải phục vụ cho cuộc sống của con người. Đề truy cập thông tin phải thông qua các điểm truy cập của nó được xây dựng trên bộ máy tra cứu truyền thống như: Mục lục chữ cái tên sách — tác giả, mục lục phân loại,. trên các CSDL như: thuật ngữ tìm kiếm, các từ khóa từ chuẩn.
và các điểm truy cập trên cơ CSDL này phải kết nối với nhau băng các toán tử logic. 17 *Tinh chia sẻ Dé thỏa mãn nhu cầu thông tin một cách cao nhất và dé tiết kiệm kinh phí trong các thao tác nghiệp vụ như bổ sung, xử lí,.các trung tâm TT-TV và trung tâm thông tin cần có khả năng sử dụng nhiều loại thông tin từ các nơi khác nhau. Thực chất đây là sự chia sẻ NLTT. Tính chia sẻ của NLTT thé hiện ở khả năng có thé trao đổi thông tin đa chiều giữa các hệ thống thông tin với nhau.
Tính chia sẻ của NLTT hiện nay đang được các trung tâm TT-TV quan tâm đặc biệt, bởi vì nó là phương tiện để đáp ứng nhu cầu tin của NDT khi mà NLTT của mỗi Trung tâm TT-TV riêng lẻ không đáp ứng được nhu cầu truy cập, sử dụng thông tin trong một xã hội hiện đại và phát triển hiện nay. Việc chia sẻ NLTT truyền thống chủ yếu dựa vào các biéu ghi thư mục. NDT của các thư viện khác có thể tìm thấy tài liệu mà mình cần qua các biểu ghi thư mục mà thư viện bạn cung cấp nhưng phải đến thư viện đó dé mượn tài liệu. So với việc chia sẻ NLTT truyền thống thì NLTT điện tử thì đơn giản và thuận lợi hơn nhiều.
Nếu các CSDL trực tuyến thì NDT có thể đọc được trên mạng mà không cần phải đến tận nơi lưu trữ tài liệu đó. Việc chia sẻ chỉ là cách thức truy cập tới nguồn thông tin đó mà thôi. *Tinh giá trị Thông tin chỉ có giá trị khi nó được sử dụng. Thông tin có giá trị là những thông tin phục vụ cho mọi hoạt động trong cuộc sống của con người.
Tuy nhiên, dé xác định được chất lượng và giá trị của thông tin, thông tin phải có 4 yếu tô sau đây: Phạm vi bao quát nội dung,tính chính xác, tính cập nhật va tần suất sử dụng, trong đó quan trọng nhất là nội dung thông tin và tính chính xác. Dé thông tin thật sự trở thành nguồn lực, chúng ta cần chăm lo sao cho thông tin phải tốt. Chúng ta phải đưa thông tin vào cuộc sống con người, đề thông tin trở nên gần gũi với con người trong việc giải quyết, quản lí của con người. Thông tin có giá trị là kết quả của một quá trình lao động sáng tạo của con người.
e Phát triển nguồn lực thông tin 18 Phát triển - nguyên gốc tiếng Anh là development - là một hành động hay quá trình làm cho một cái gì đó thay đổi, tăng trưởng và tiến bộ hơn. Trong tiếng Việt, phát triển có nghĩa là làm cho lớn hơn, trưởng thành hơn, mạnh hơn, tốt hơn. Theo ý nghĩa đó, phát triển nguồn lực thông tin được hiểu là hoạt động làm thay đổi NLTT cả về số lượng và chất lượng, làm cho NLTT trở nên mạnh hơn, phong phú hơn, đầy đủ hơn, có chất lượng hơn. Gần đây, trên các bài viết về nguồn lực thông tin, nhiều tác giả còn đưa ra khải niệm quản trị nguồn lực thông tin.
Quan trị - management - là hành động của chủ thể tác động vào đối tượng, dé dat được mục tiêu định trước. Quan tri bao gồm một loạt quá trình liên tiếp nhau từ việc xác định mục tiêu, lập kế hoạch, tổ chức, bố trí nhân sự, hướng dẫn và kiểm tra. Như vây, quản trị là bước tiếp theo, nâng cao hơn của phát triển. Phát triển là tiên dé của quan tri.
Trong lĩnh vực thông tin - thư viện, phát triển nguồn lực thông tin có nghĩa là làm cho nguồn tin lớn mạnh, phong phú, da dang về chủng loại, đảm bảo chất lượng nguồn tin, đáp ứng nhu cầu của người dùng tin. Như vậy dường như trong công tác phát triển nguồn lực thông tin , một sỐ động thái quan tri nguồn lực thông tin cũng đã hình thành , chăng hạn như việc xem xét lại chính sách bồ sung, điều chỉnh diện bổ sung sao cho phù hợp với NCT của NDT. Chỉ có điều là khi nói đến phát triển nguồn lực thông tin, hình như yếu tổ hiệu quả không phải là yêu tố được nhân mạnh hang đầu. Còn khi nói đến quản trị nguồn lực thông tin, yếu tố hiệu qua là yếu tố được nhắc đến trước hết.
Như vậy có thé thay, để mô ta quá trình xây dựng nguồn lực thông tin, dam bảo nguồn lực ấy phát huy hiệu quả trong việc đáp ứng NCT của NDT, khái niệm chính xác dé chỉ quá trình ấy phải là “ phát triển và quản trị nguôn lực thông tin”. Trong những năm gần đây, do sự tác động mạnh mẽ của công nghệ, đặc biệt là công nghệ xuất bản, công nghệ thông tin và truyền thông, ngoài các phương pháp thu thập thông tin truyền thống mà các thư viện lâu nay vẫn tiến hành như xin, trao đôi hoặc mua tải liệu vê thư viện, xử lý và đưa vào kho của thư viện, đã xuât hiện 19 một phương thức mới mà các thư viện hiện đại đang tiến hành trong việc xây dựng nguôn tin. Bản chất của phương thức này là các thư viện không cô tìm bằng mọi cách đề nâng cao số lượng tài liệu có trong thư viện. Hay nói khác đi là các thư viện không tim mọi cách dé bổ sung vào thư viện mọi nguồn thông tin mà NDT có nhu cầu, mà thay vào đó, các thư viện chú trọng làm sao thỏa mãn tốt nhất nhu cầu thông tin của người dùng tin.
Dé làm được điều nay, các thư viện cố gắng tìm dé biết ở đâu có nguồn tin gì, truy cập bằng phương thức nào dé khi người dùng tin œ nhu cau, thư viện sẽ giúp người dùng tin với tới nguồn thông tin đó. Điều đó có nghĩa là thư viện đã chuyên từ phương thức chuẩn bị sẵn một nguồn tin đầy đủ để phục vụ người dùng tin trong mọi trường hợp (just in case) sang phương thức tìm và phục vụ người dùng tin khi có nhu cầu (just in time). Đôi khi người ta cũng còn dùng cách chơi chữ, băng cách sử dụng hai thuật ngữ Warehouse và Wherehouse, (hai thuật ngữ này được phát âm gần giống nhau nhưng nghĩa khác nhau) dé chỉ hai trạng thái của thư viện, đó là thư viện đang chuyển từ trạng thái “Warehouse” - giống như một “nhà kho” lưu trữ tài liệu thành trạng thái “Wherehouse” — là nơi có thé cho ta biết ở đâu có cái gì. Nói như vậy dé thấy ngày nay, các thư viện đang chuyên dần từ khái niệm phát triển nguồn tin đơn thuần sang phát triển đồng thời với quan tri nguôn tin.
Phát triển nguồn lực thông tin có nghĩa là với một nguồn kinh phí nhất định ta phải làm cho nguồn lực thông tin mạnh về số lượng, đảm bảo về chất lượng, phong phú về chủng loại, đa dạng về loại hình, có khả năng thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của người dùng tin. Phát triển nguồn lực thông tin là một hoat đông mang tính hệ thong ; đồng bộ , bao gom ca viéc thu thap, lua chon, bổ sung tải liệu và việc tô chức, quản lý tải liệu một cách khoa học, đồng thời tổ chức khai thác NLTT một cách có hiệu quả, đáp ứng đầy đủ NCT của NDT.