Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Công trình nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh chuyển dịch kinh tế - xã hội trong thế kỷ XXI, thời kỳ phát triển của xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức, nơi tri thức và thông tin trở thành nguồn lực sản xuất đặc thù. Đối với các cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là những đơn vị định hướng kỹ thuật và công nghệ chuyên sâu, sự gia tăng nhanh chóng của tài liệu khoa học đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác tổ chức, quản lý và phát triển nguồn tài nguyên thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập.
Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội là cơ sở đào tạo đầu ngành trong việc cung ứng kiến trúc sư và kỹ sư cho các khối ngành Kiến trúc, Xây dựng, Quy hoạch đô thị, Kỹ thuật hạ tầng và Môi trường đô thị, Quản lý đô thị. Trong giai đoạn khảo sát, nhà trường tiến hành mở rộng quy mô đào tạo gắn liền với chuẩn hóa chất lượng, chuyển đổi phương thức đào tạo theo hệ thống học chế tín chỉ. Hình thức đào tạo theo tín chỉ đòi hỏi người học phải nâng cao năng lực tự học và tự nghiên cứu, biến thư viện thành giảng đường thứ hai. Thực tế này tạo áp lực trực tiếp lên Trung tâm Thông tin - Thư viện trong việc hiện đại hóa vốn tài liệu chuyên ngành lẫn đa ngành. Tác giả đặt ra câu hỏi nghiên cứu trọng tâm: Làm thế nào để phát triển nguồn lực thông tin hiện có của Trung tâm, đồng thời liên kết và khai thác hiệu quả các nguồn lực thông tin bên ngoài nhằm thỏa mãn nhu cầu tin ngày càng cao của người dùng tin?
Mục tiêu nghiên cứu được xác định rõ ràng:
- Khảo sát, phân tích và đánh giá toàn diện thực trạng nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin và hiệu quả công tác phục vụ thông tin cho cán bộ, giảng viên và sinh viên toàn trường.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận:
- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn lực thông tin và công tác phát triển nguồn lực thông tin tại đơn vị.
- Phạm vi không gian: Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội (Km 10 đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân / phường Văn Quán, quận Hà Đông, Hà Nội).
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn hoạt động từ khi thành lập Trung tâm theo cơ chế mới (năm 2001) đến thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2013), trong đó các số liệu thống kê thu thập phản ánh chi tiết giai đoạn 2000 - 2012.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về cơ sở lý thuyết, tác giả tiếp cận khái niệm nguồn lực thông tin (Information Resource) từ các góc độ thư viện học và khoa học thông tin: từ điển học, định nghĩa của UNESCO (coi nguồn lực thông tin bao gồm dữ liệu văn bản, số, hình ảnh, âm thanh được ghi lại trên các vật mang tin quy ước và không quy ước), và công trình "Thông tin - từ lý thuyết đến thực tiễn" (2005) của PGS. TS. Nguyễn Hữu Hùng. Tác giả giới hạn nội dung khái niệm vào nguồn tài liệu có cấu trúc được kiểm soát trong cơ quan thông tin - thư viện (sách, báo, tạp chí, cơ sở dữ liệu, luận văn, luận án, đồ án).
Khóa luận hệ thống hóa 5 đặc trưng cơ bản của nguồn lực thông tin:
- Tính vật lý: Thể hiện qua vật mang tin truyền thống (giấy, phim, ảnh) hoặc hiện đại (CD-ROM, đĩa từ, đĩa quang, cơ sở dữ liệu số).
- Tính cấu trúc: Tài liệu được mô tả, phân loại và sắp xếp theo các quy tắc, chuẩn nghiệp vụ thống nhất.
- Tính truy cập: Khả năng tra tìm thông qua các điểm truy cập như từ khóa, tác giả, nhan đề, mục lục truyền thống hoặc mục lục trực tuyến (OPAC).
- Tính có thể chia sẻ: Khả năng luân chuyển, mượn liên thư viện và liên kết mạng lưới.
- Tính giá trị: Giá trị thông tin được xác thực thông qua mức độ sử dụng và khả năng tạo ra tri thức mới.
Đồng thời, công tác phát triển nguồn lực thông tin được vận hành dựa trên 4 nguyên tắc: tính Đảng (phù hợp đường lối, chủ trương chính sách của Nhà nước), nguyên tắc định hướng, nguyên tắc khoa học và kế hoạch, nguyên tắc đầy đủ - kịp thời - chính xác. Nghiên cứu cũng khảo sát việc ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp Libol 5.5 (do Công ty Tinh Vân phát triển) với các phân hệ nghiệp vụ: Bổ sung, Biên mục, Lưu thông, Bạn đọc, OPAC, Quản trị.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Xử lý các văn bản pháp quy, báo cáo tổng kết năm học, tài liệu thống kê chuyên môn của Trung tâm giai đoạn 2000 - 2012 và các công trình nghiên cứu đi trước (luận văn của Hoàng Sơn, khóa luận của Trần Thị Kim Liên).
- Phương pháp quan sát: Ghi nhận thực tế tổ chức không gian kho, trang thiết bị kỹ thuật, thao tác nghiệp vụ bổ sung và xử lý kỹ thuật tài liệu.
- Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lý, chuyên viên nghiệp vụ thư viện để thu thập thông tin về quy trình lập danh mục mua, phân bổ kinh phí và vận hành hệ thống phần mềm.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát ngẫu nhiên với cỡ mẫu $n = 150$ người dùng tin tại trường nhằm đo lường nhu cầu, hành vi khai thác và mức độ hài lòng đối với vốn tài liệu cùng các sản phẩm - dịch vụ thông tin.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội và cơ sở lý luận về nguồn lực thông tin
Tiểu mục này tập trung trình bày lịch sử hình thành đơn vị qua 4 mốc phát triển:
- Giai đoạn 1961 - 1969: Khởi đầu từ một tủ sách chuyên ngành phục vụ lớp Kiến trúc sư thuộc Bộ Kiến trúc; đến ngày 17/09/1969 Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 181/CP của Hội đồng Chính phủ, thư viện trở thành một bộ phận trực thuộc Phòng Đào tạo với 3 cán bộ.
- Giai đoạn 1970 - 1980: Thời kỳ sơ tán chiến tranh tại Cao Bằng, sau đó chuyển về Xuân Hòa (Vĩnh Phúc), chia tách cơ sở đào tạo giữa Xuân Hòa và Chèm (Từ Liêm), cơ sở vật chất và tài liệu phân tán.
- Giai đoạn 1981 - 2000: Thư viện chuyển về địa điểm Km 10 đường Nguyễn Trãi (Thanh Xuân, Hà Nội); số lượng cán bộ tăng từ 6 người (năm 1981) lên 9 người (năm 2000).
- Giai đoạn 2001 đến thời điểm nghiên cứu: Ngày 08/01/2001, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 43/QĐ-BXD sáp nhập Thư viện (thuộc Phòng Quản lý Đào tạo) và Trung tâm Tư liệu (thuộc Viện Nghiên cứu Kiến trúc Nhiệt đới) thành Trung tâm Thông tin - Thư viện trực thuộc Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.
Về cơ cấu tổ chức và nhân sự, Trung tâm có Ban Giám đốc (1 Giám đốc, 1 Phó Giám đốc) và 4 bộ phận chức năng: Bộ phận Chuyên môn nghiệp vụ (4 cán bộ), Bộ phận Phục vụ bạn đọc (7 cán bộ), Bộ phận Thông tin - Tư liệu (3 cán bộ), Bộ phận Quản trị mạng và thiết bị, số hóa tài liệu (4 cán bộ). Tổng nhân sự gồm 19 cán bộ (2 biên chế, 17 hợp đồng). Trình độ chuyên môn của đội ngũ được thống kê chi tiết: 1 Tiến sĩ Xây dựng, 2 Thạc sĩ Thông tin - Thư viện, 9 Cử nhân Thông tin - Thư viện, 1 Cử nhân Công nghệ thông tin, 3 Cử nhân Ngôn ngữ và Khoa học xã hội, 1 Cử nhân Báo chí, 1 Cao đẳng Thư viện, 1 Kiến trúc sư quy hoạch.
Cơ sở vật chất của Trung tâm bố trí tại các tầng 4, 5, 6 của tòa nhà 9 tầng với tổng diện tích xây dựng 1.567 $\text{m}^2$. Hệ thống kỹ thuật bao gồm 6 máy chủ, 3 máy trạm, 10 máy văn phòng, 20 máy tính dành riêng cho người dùng tra cứu OPAC và truy cập Internet, cùng các trang thiết bị quét (scan), in laser và photocopy. Người dùng tin của Trung tâm được phân thành 4 nhóm đối tượng: cán bộ lãnh đạo - quản lý; cán bộ giảng dạy - nghiên cứu; học viên cao học - nghiên cứu sinh; sinh viên (chiếm số lượng áp đảo).
Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Chương 2 phản ánh chi tiết hiện trạng vốn tài liệu và quy trình nghiệp vụ thông qua số liệu lưu trữ:
- Cơ cấu nguồn lực thông tin truyền thống:
Tổng số tài liệu dạng giấy đạt 152.397 bản sách, 12.900 bản tạp chí (với 112 tên ấn phẩm), khoảng 50 loại báo và 1.532 bản tài liệu không công bố. Phân loại theo ngôn ngữ: tài liệu tiếng Việt chiếm phần lớn với 146.580 bản; tài liệu tiếng Nga có 3.031 bản; tài liệu tiếng Anh có 1.390 bản; còn lại là tài liệu tiếng Đức, Pháp, Trung Quốc, Hàn Quốc.
- Giáo trình: Đạt 129.201 cuốn với 267 tên sách, tập trung vào khoa học cơ bản (Toán, Lý, Hóa, Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị).
- Sách tham khảo: Sách tiếng Việt có 26.100 cuốn với 985 đầu sách. Sách ngoại văn chủ yếu bằng tiếng Nga, tiếng Anh, Pháp, Đức thuộc chuyên ngành Kiến trúc, Quy hoạch, Xây dựng; các ngành Quản lý đô thị, Hạ tầng đô thị còn thiếu hụt.
- Tạp chí và Báo: Tạp chí chuyên ngành gồm Tạp chí Kiến trúc, Tạp chí Nhà đẹp, bên cạnh tạp chí văn hóa - giải trí. Báo duy trì 50 đầu báo xuất bản định kỳ hàng ngày, hàng tuần.
- Tài liệu xám (không công bố): Lưu trữ 85 luận án Tiến sĩ và 1.447 luận văn Thạc sĩ của các thế hệ học viên, giảng viên.
- Cơ cấu nguồn lực thông tin hiện đại:
- Cơ sở dữ liệu nội sinh: Xây dựng CSDL Sách trên phần mềm Libol với khoảng 3.000 biểu ghi; CSDL Luận văn, luận án với hơn 1.000 biểu ghi; CSDL Báo - Tạp chí (chỉ lập cho tạp chí nhập những năm gần đây); CSDL Đồ án môn học với hơn 100 đồ án sinh viên (xử lý qua quy trình: tiếp nhận bản vẽ giấy chi tiết từ các khoa, scan, số hóa thành file ảnh, định từ khóa, phân loại và biên mục vào Libol).
- Cơ sở dữ liệu ngoại sinh và điện tử: Khai thác CSDL trực tuyến EBSCO thông qua dự án PERI Việt Nam phối hợp với Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia; tiếp nhận các nguồn tạp chí trực tuyến chuyên ngành Kiến trúc - Xây dựng do Quỹ Ford tài trợ (như Tạp chí Xây dựng Châu Âu, Tạp chí Thiết kế Kỹ thuật Xây dựng); lưu trữ trên 20 đĩa CD-ROM đi kèm tài liệu chuyên ngành.
- Phương thức bổ sung, kinh phí và công tác thanh lý:
- Phương thức bổ sung: Mua theo hợp đồng và mua lẻ qua các nhà xuất bản (NXB Xây dựng, NXB Khoa học và Kỹ thuật, NXB Giáo dục, NXB Chính trị Quốc gia); tiếp nhận lưu chiểu bắt buộc đối với luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ; trao đổi, tài trợ từ Quỹ Ford (năm 2007 tài trợ 29 đầu tạp chí, 177 cuốn, trị giá 5.800 USD) và Quỹ Châu Á (Asia Foundation).
- Kinh phí: Trung tâm duy trì khoảng 100 đến 200 triệu đồng mỗi năm dành riêng cho việc đặt mua báo và tạp chí.
- Thanh lý tài liệu: Quy trình thanh lý thực hiện định kỳ 4 - 5 năm một lần, tài liệu loại ra được lưu kho dự phòng từ 5 - 10 năm trước khi xử lý tiêu hủy. Thống kê năm 2001 ghi nhận thanh lý 117 đầu sách với 9.134 cuốn.
- Kết quả điều tra người dùng tin ($n = 150$):
- Cơ cấu mẫu: 127 nam (84,6%), 23 nữ (15,4%); trong đó sinh viên chiếm 91,4%, còn lại là giảng viên, học viên cao học, cán bộ quản lý.
- Nhu cầu theo chuyên ngành: Kiến trúc chiếm 30,0%; Xây dựng chiếm 23,3%; Quy hoạch chiếm 19,3%; Kỹ thuật Môi trường đô thị chiếm 14,0%; Mỹ thuật chiếm 10,0%; chuyên ngành khác chiếm 3,3%.
- Nhu cầu ngôn ngữ tài liệu: Tiếng Việt (100 người chọn - 100%), tiếng Anh (79 người - 52,7%), tiếng Nga (29 người - 19,3%), tiếng Pháp (27 người - 18,0%), tiếng Trung và ngôn ngữ khác (15 người - 10,0%).
- Đánh giá mức độ thỏa mãn: 50,0% chưa thỏa mãn; 23,3% khá thỏa mãn; 26,7% thỏa mãn.
Chương 3: Nhận xét và một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Dựa trên thực trạng, tác giả chỉ ra các điểm nghẽn: nguồn kinh phí hạn chế; cơ cấu tài liệu ngoại văn mất cân đối (nhiều tài liệu tiếng Nga cũ, thiếu tài liệu tiếng Anh cập nhật); tài liệu số hóa chưa phong phú; hệ thống tra cứu máy tính còn mỏng; các khoa chưa nộp lưu chiểu đầy đủ khóa luận và đồ án tốt nghiệp. Tác giả đề xuất 8 nhóm giải pháp cụ thể:
- Xây dựng chính sách phát triển nguồn lực thông tin: Ban hành văn bản quy định tiêu chuẩn bổ sung, tỷ lệ giữa sách giáo trình, sách tham khảo và cơ sở dữ liệu số phù hợp khung chương trình tín chỉ.
- Đa dạng hóa các nguồn bổ sung và loại hình tài liệu: Khai thác mạnh nguồn tài trợ quốc tế, tăng cường thu thập tài liệu hội thảo khoa học và xuất bản phẩm điện tử.
- Chú trọng bổ sung "đúng" và "trúng" nhu cầu tin của người dùng tin: Cải tiến phương pháp khảo sát nhu cầu tin đầu năm học bằng bảng hỏi trực tuyến thay cho bảng giấy, phối hợp chặt chẽ với giảng viên bộ môn khi lập danh mục đặt mua.
- Đẩy mạnh tin học hóa trong công tác phát triển nguồn lực thông tin: Tận dụng tối đa các chức năng của phân hệ Bổ sung trên phần mềm Libol 5.5 (quản lý đơn đặt, theo dõi tiến độ giao hàng, kiểm soát trùng lặp, thống kê ngân sách).
- Tăng cường phối hợp bổ sung và chia sẻ nguồn lực thông tin: Phát huy vai trò thành viên trong Liên hiệp Thư viện các trường đại học phía Bắc; liên kết chia sẻ tài liệu với Thư viện Quốc gia Việt Nam, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.
- Tăng cường kinh phí bổ sung: Đề xuất nhà trường nâng định mức ngân sách bổ sung tài liệu hàng năm từ nguồn thu học phí và các hợp đồng chuyển giao công nghệ.
- Tăng cường nguồn đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị: Lắp đặt bổ sung máy trạm phục vụ bạn đọc tra cứu OPAC, nâng cấp đường truyền mạng Internet, trang bị thêm máy quét chuyên dụng để tăng tốc độ số hóa đồ án bản vẽ kỹ thuật.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và đào tạo người dùng tin: Bồi dưỡng định kỳ kỹ năng ngoại ngữ, tin học, nghiệp vụ chuẩn biên mục cho 17 cán bộ hợp đồng; định kỳ mở các lớp hướng dẫn kỹ năng tra cứu CSDL cho tân sinh viên và học viên cao học.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã định lượng hóa toàn bộ hiện trạng hoạt động nghiệp vụ tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội thông qua các chuỗi số liệu thực tế được tổng hợp trong các bảng sau:
| Năm nộp lưu chiểu |
Số lượng luận văn Thạc sĩ |
Số lượng luận án Tiến sĩ |
| 2008 |
131 |
0 |
| 2009 |
87 |
2 |
| 2010 |
100 |
0 |
| 2011 |
105 |
0 |
| 2012 |
50 |
8 |
Bảng: Thống kê số lượng tài liệu không công bố nộp lưu chiểu tại đơn vị (2008 - 2012)
| Mức độ thỏa mãn của người dùng tin |
Số lượng người trả lời |
Tỷ lệ (%) |
| Thỏa mãn |
40 |
26,7 |
| Khá thỏa mãn |
35 |
23,3 |
| Chưa thỏa mãn |
75 |
50,0 |
| Tổng cộng |
150 |
100,0 |
Bảng: Mức độ thỏa mãn của người dùng tin đối với nguồn lực thông tin ($n = 150$)
| Hình thức sản phẩm / dịch vụ |
Số người dùng (SL) |
Tỷ lệ dùng (%) |
Đánh giá: Tốt (%) |
Đánh giá: Trung bình (%) |
Đánh giá: Chưa tốt (%) |
| Mục lục truyền thống |
55 |
36,6 |
32,7 |
29,1 |
38,2 |
| Cơ sở dữ liệu (máy tính) |
63 |
42,0 |
47,6 |
15,8 |
36,4 |
| Danh mục sách mới, luận văn, luận án |
52 |
34,6 |
21,2 |
36,5 |
42,3 |
| Đọc tại chỗ |
145 |
96,6 |
47,6 |
25,5 |
30,3 |
| Mượn về nhà |
148 |
98,6 |
62,8 |
21,0 |
17,5 |
| Khai thác Internet |
110 |
73,3 |
25,5 |
31,8 |
42,7 |
Bảng: Đánh giá chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin của Trung tâm
Về đóng góp học thuật và thực tiễn, tác giả tự định vị công trình của mình so với các nghiên cứu trước đó tại trường:
- Khác với luận văn thạc sĩ của Hoàng Sơn (chỉ tập trung vào nguồn lực thông tin số) và khóa luận của Trần Thị Kim Liên (chỉ tìm hiểu công tác phát triển vốn tài liệu in truyền thống), khóa luận của Khổng Thị Huyền đã khảo sát toàn diện cả hai bộ phận cấu thành nguồn lực thông tin: truyền thống (sách, báo, tạp chí, tài liệu xám dạng giấy) và hiện đại (CSDL Libol, CSDL đồ án scan, CSDL trực tuyến EBSCO, đĩa CD).
- Khóa luận cung cấp bức tranh định lượng rõ nét về mức độ thỏa dụng của người dùng tin thông qua khảo sát thực nghiệm 150 phiếu, làm rõ sự dịch chuyển trong hành vi tìm kiếm thông tin: bạn đọc giảm dần sử dụng mục lục truyền thống (chỉ 36,6% sử dụng và 38,2% chê chưa tốt) để chuyển dịch sang tra cứu cơ sở dữ liệu số và mạng Internet, làm cơ sở thực chứng vững chắc cho việc hoạch định chính sách đầu tư trang thiết bị thư viện trường đại học chuyên ngành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số giới hạn gắn liền với phạm vi nghiên cứu được văn bản xác định:
- Mẫu khảo sát điều tra xã hội học ($n = 150$) có sự chênh lệch lớn về thành phần khi sinh viên chiếm tới 91,4%, trong khi tỷ lệ tham gia của cán bộ quản lý, giảng viên và nghiên cứu sinh còn rất nhỏ; do đó, kết quả khảo sát phản ánh chủ yếu nhu cầu học tập của sinh viên đại học chính quy hơn là nhu cầu nghiên cứu chuyên sâu của các nhà khoa học.
- Dữ liệu thu thập về kinh phí bổ sung tổng thể và cơ sở dữ liệu trực tuyến ngoại văn mới chỉ dừng ở mức thống kê cục bộ từng năm đơn lẻ (như số liệu tài trợ Quỹ Ford năm 2007), chưa tổng hợp được bức tranh tài chính liên tục theo chuỗi thời gian dài hạn.
- Hướng mở rộng được gợi mở từ giới hạn nghiên cứu: Tiếp tục mở rộng khảo sát chuyên sâu theo từng nhóm đối tượng học viên sau đại học và giảng viên; nghiên cứu giải pháp xây dựng cổng thông tin tích hợp và thư viện số chuyên ngành Kiến trúc - Quy hoạch - Xây dựng nhằm số hóa toàn văn đồ án tốt nghiệp và liên kết cơ sở dữ liệu toàn văn quốc tế.
Giá trị tham khảo
Báo cáo nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên ngành Thông tin - Thư viện, Quản lý thông tin: Tài liệu cung cấp cấu trúc mẫu chuẩn mực cho một nghiên cứu đánh giá thực trạng cơ quan thông tin - thư viện cấp trường đại học; phương pháp xây dựng phiếu điều tra nhu cầu tin và kỹ thuật xử lý dữ liệu khảo sát.
- Cán bộ quản trị và nhân viên thư viện các trường đại học khối kỹ thuật: Nội dung Chương 2 và Chương 3 cung cấp mô hình thực tế về việc áp dụng phân hệ Bổ sung của phần mềm Libol 5.5, quy trình quản lý tài liệu lưu chiểu luận văn/luận án, và đặc biệt là kinh nghiệm số hóa xử lý loại hình tài liệu đặc thù: đồ án môn học bản vẽ kỹ thuật khổ lớn chuyển thành cơ sở dữ liệu ảnh phục vụ đào tạo kiến trúc sư.
- Các nhà nghiên cứu chính sách giáo dục đại học: Các bảng biểu thống kê về mức độ thỏa mãn dịch vụ (50% chưa thỏa mãn) và tỷ lệ dùng dịch vụ đọc/mượn truyền thống (trên 96%) đặt cạnh tỷ lệ đánh giá dịch vụ mạng chưa tốt (42,7%) là căn cứ thực tế phản ánh khoảng cách giữa đầu tư hạ tầng CNTT và nhu cầu thực của sinh viên giai đoạn chuyển đổi đào tạo tín chỉ.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu nhân sự và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường ĐHKTHN tại thời điểm nghiên cứu như thế nào?
Tại thời điểm nghiên cứu, Trung tâm có 19 cán bộ, trong đó chỉ có 2 người thuộc diện biên chế và 17 người là lao động hợp đồng. Về trình độ: 1 Tiến sĩ Xây dựng, 2 Thạc sĩ Thông tin - Thư viện, 9 Cử nhân Thông tin - Thư viện, 1 Cử nhân Công nghệ thông tin, 3 Cử nhân Ngôn ngữ và Khoa học xã hội, 1 Cử nhân Báo chí, 1 Cao đẳng Thư viện và 1 Kiến trúc sư quy hoạch.
2. Mức độ thỏa mãn của người dùng tin đối với nguồn lực thông tin tại Trung tâm đạt tỷ lệ ra sao?
Kết quả điều tra 150 người dùng tin cho thấy: có 50,0% người được hỏi đánh giá "Chưa thỏa mãn", 23,3% đánh giá "Khá thỏa mãn", và chỉ có 26,7% đánh giá "Thỏa mãn". Nguyên nhân chính là do nguồn tài liệu tham khảo và tài liệu chuyên ngành bằng tiếng Anh còn hạn chế, các nguồn tài liệu xám có giá trị cao (luận án, luận văn, đề tài) chưa được thu thập đầy đủ và chưa phục vụ rộng rãi, cùng với việc thiếu hụt máy tính tra cứu trực tuyến.
3. Cơ cấu vốn tài liệu truyền thống của Trung tâm phân bổ theo ngôn ngữ như thế nào?
Trong tổng số 152.397 bản sách và tài liệu truyền thống, tài liệu tiếng Việt chiếm áp đảo với 146.580 bản. Tài liệu ngoại văn chiếm tỷ lệ khiêm tốn: tài liệu tiếng Nga có 3.031 bản, tài liệu tiếng Anh có 1.390 bản; phần còn lại là tài liệu bằng tiếng Đức, Pháp, Trung Quốc và Hàn Quốc.
4. Quy trình xử lý và xây dựng cơ sở dữ liệu đồ án môn học tại Trung tâm diễn ra như thế nào?
Các đồ án môn học và đồ án tốt nghiệp sau khi nộp về các khoa được bàn giao về Trung tâm dưới dạng bản vẽ giấy chi tiết. Cán bộ thư viện tiến hành quét (scan) để chuyển đổi sang định dạng file ảnh, thiết kế giao diện website hiển thị, thực hiện phân loại, định từ khóa, tạo lập biểu ghi và tích hợp vào hệ thống cơ sở dữ liệu trên phần mềm Libol 5.5 để phục vụ bạn đọc tra cứu mẫu bài tập.
5. Công tác thanh lý tài liệu tại Trung tâm được thực hiện theo định kỳ và nguyên tắc nào?
Trung tâm tiến hành thanh lý định kỳ từ 4 đến 5 năm một lần. Tuy nhiên, tài liệu sau khi thanh lý không bị hủy ngay mà được đưa vào diện lưu kho bảo quản dự phòng từ 5 đến 10 năm trước khi xử lý tiêu hủy hoàn toàn. Thống kê giai đoạn trước đó cho thấy năm 2001 Trung tâm đã thực hiện thanh lý 117 đầu sách tương đương 9.134 cuốn sách cũ, lạc hậu.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Khổng Thị Huyền đã khảo cứu một cách hệ thống, khách quan thực trạng nguồn tài nguyên thông tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội trong giai đoạn chuyển đổi phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ. Dựa trên nguồn dữ liệu lưu trữ nội bộ phong phú kết hợp kết quả khảo sát thực nghiệm 150 người dùng tin, tác giả đã chỉ rõ những điểm mạnh về vốn giáo trình in truyền thống, đồng thời vạch ra các bất cập về kinh phí, tỷ lệ tài liệu ngoại văn tiếng Anh và hạ tầng số hóa tài liệu xám. Công trình đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp khả thi, mang lại giá trị thực tiễn trực tiếp cho công tác quản trị thư viện đại học kỹ thuật chuyên ngành và đóng góp nguồn cứ liệu học thuật tin cậy cho chuyên ngành Thông tin - Thư viện.