CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA HỆ THÓNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG VÀ SỰ NGHIỆP ĐÔI MỚI Ở VIỆT NAM 1. Tính tất yếu của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam 1. Hoàn cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam vào những thập kỷ cuối của thé kỷ XX dẫn đến chủ trương doi mới của Đảng và Nhà nước. Với Đại thắng mùa Xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi.
Đây lâ một trong những chiến thắng lịch sử oanh liệt nhất, lẫy lừng nhất của dân tộc Việt Nam. Chúng ta đã đánh bại dé quốc Mỹ - một dé quéc có thé lực kinh tế, quân sự hùng mạnh vào bậc nhất thế giới. Một kỷ nguyên phát triển rực rỡ của cách mạng Việt Nam đã được mở ra: Kỷ nguyên cả nước độc lập, thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, công cuộc xây dựng CNXH là một nhiệm vụ hết sức khó khăn lại phải tiến hành trong điều kiện đất nước vừa trải qua những năm tháng chiến tranh liên miên nên càng nặng nề và gian nan hơn.
Miền Bắc tuy đã tiến lên xây dựng CNXH trước nhưng do vừa xây dựng CNXH vừa phải đảm bảo là hậu phương vững chắc cho miền Nam, vừa phải chống lại hai cuộc chiến tranh phá hoại của dé quốc Mỹ nên quá trình này bị chậm lại. Chính vì vậy kinh tế miền Bắc lúc này trong trạng thái lạc hậu và kém phát triển. Sản xuất nhỏ lẻ, kinh tế dựa vào nông nghiệp là chính. Cơ chế quản lý kinh tế vốn đã yếu kém, nặng về tập trung quan liêu bao cấp, lại bị ảnh hưởng bởi chiến tranh nên càng méo mó, phi kinh tế.
Sau năm 1975, chiến tranh kết thúc, cơ chế quản lý kinh tế bộc lộ rõ hơn những bất cập của nó. Quan hệ sản xuất có dấu hiệu của sự khủng hoảng. Do vậy, việc chấn chỉnh lại cơ chế quản lý kinh tế cho phù hợp với quy luật vận động là một vấn đề hết sức khó khăn. Về mặt xã hội, chiến tranh đã làm xáo trộn và gây ton thất lớn cho lực lượng lao động, dé lại hậu quả rất nặng nề và kéo dài.
Đặc điểm của miền Bắc đòi hỏi phải đặt ra và xử lý một cách đúng đắn mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất còn quá lạc hậu, phải lựa chọn hình thức thích hợp của quan hệ sản xuất để phát triển nền kinh tế có hiệu quả. Thực tế cho thấy sản xuất trong những năm đầu cải tạo xã hội chủ nghĩa vẫn có bước phát triển, nhưng từ năm 1962 trở đi đã có dấu hiệu trì trệ, năng suất, sản lượng thấp và xuất hiện những tiêu cực. Điều đó cho thấy về quan hệ sản xuất mới giải quyết được vấn đề sở hữu chuyền từ sở hữu cá thé, tư nhân sang sở hữu tập thé, sở hữu toàn dân, trong khi đó van dé quan ly còn nhiều hạn chế, yếu kém va lang túng mà trình độ tổ chức quản lý, trình độ cán bộ chưa đáp ứng được.
Đối với miền Nam, do chính sách thực dân kiểu mới, yếu tố tư bản chủ nghĩa đã xâm nhập mạnh vào các ngành công nghiệp, thương nghiệp, tài chính ngân hàng.và bước đầu trong nông nghiệp. Trong chừng mực nhất định, kinh tế ở các vùng bị tạm chiếm đã phát triển theo hướng TBCN. Tuy nhiên, kinh tế miền Nam chủ yếu van là sản xuất nhỏ, cơ cau mat cân đối và lệ thuộc nặng nề vào viện trợ bên ngoài. Vì vậy, khi Mỹ rút quân, cắt giảm viện trợ, nên kinh tế miền Nam lập tức rơi vào khủng hoảng.
Nhiệm vụ khôi phục và phát triển một nền kinh tế vốn mang tính lệ thuộc cao như vậy trở nên hết sức khó khăn. Do là chưa kể đến khó khăn ở những vùng bị tàn phá bởi chiến tranh, bị hủy diệt bởi chất độc hóa học. Sau giải phóng, miền Nam còn có sự phức tạp về mặt xã hội. Chiến tranh và quá trình cưỡng bức đô thị hóa của Mỹ đã gây xáo trộn trong phân bố lực lượng lao động.
Nông thôn nông nghiệp thiếu lao động. Các vùng đô thị, mật độ dân số quá đông, không tương xứng với sự phát triển về kinh tế. Sau chiến tranh, quần chúng nhân dân rất phan khởi, nhanh chóng bắt tay vào xây dựng chế độ mới, nhưng cũng còn một bộ phận, nhất là những người đã từng tham gia trong bộ máy quân sự và chính trị của chính quyền Sai Gòn tỏ ra lo ngại, thậm chí có người lợi dụng Nhà nước gặp khó khăn dé kích động, lôi kéo quần chúng, móc nối với các thế lực phản động bên ngoài, gây roi loạn trong nước. Những di hại do chế độ thực dân mới của Mỹ để lại cũng rất nặng nề như tệ nạn ma túy, lưu manh, bụi đời, mại dâm.
; số người thất nghiệp, đặc biệt là số người mù chữ chiếm tỷ lệ lớn trong dân cư. Tóm lại, tình hình đất nước sau Đại thắng mùa Xuân 1975 có nhiều thuận lợi đồng thời cũng có rất nhiều khó khăn, phức tạp mà chúng ta chúng ta chưa lường được hết. Dé sớm 6n định tình hình các vùng mới giải phóng, chính quyền cách mạng và các đoàn thê quần chúng nhanh chóng được thành lập. Chính quyền cách mạng đã chỉ đạo các cơ sở tiếp quản những vùng mới giải phóng.
Do triển khai kịp thời và chủ động nên công việc tiếp quản diễn ra nhanh gọn, có kết quả. Chúng ta đã tiếp nhận gần như nguyên vẹn các căn cứ quân sự, các cơ sở sản xuất, hành chính, văn hóa, góp phần tạo cơ sở vật chất ban đầu để nhanh chóng khôi phục kinh tế. Về mặt xã hội, chính quyền cách mạng đã có chính sách đúng đắn đối với những người đã từng tham gia trong bộ máy chính quyền, quân đội của chế độ cũ dé họ yên tâm tham gia xây dựng cuộc sống mới; kiên quyết trừng trị những phần tử chống đối, những chủ tư sản đầu cơ tích trữ lũng đoạn thị trường gây tác động xâu đến sản xuất và đời sống của nhân dân; tạo điều kiện cho những đồng bào bị gom trong các ấp chiến lược hay phải di tản vào thành phố trong thời kỳ chiến tranh được trở về quê cũ làm ăn; thu xếp việc làm cho hàng chục vạn người thất nghiệp, tổ chức cho dân đi xây dựng vùng kinh tế mới nhằm phân bố lại lực lượng lao động. Nhờ vậy, vấn đề an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững.
Về kinh tế, chính quyền cách mạng đã có những biện pháp khuyến khích sản xuất phát triển. Những cơ sở sản xuất của các phan tử phản động, tu sản mại bản, những người chạy trốn ra nước ngoài đã được chuyên sang khu vực quản lý của Nhà nước. Sau một thời gian ngắn, các cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp của Nhà nước và của cả tư nhân đều được tạo điều kiện thuận lợi dé trở lại hoạt động. Những khó khăn về nguyên liệu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế được khắc phục dần.
Năm 1976, gần 400 xí nghiệp lớn nhỏ ở Sai Gòn đã trở lại hoạt động. Chính quyền cách mạng cũng rất chú ý đến việc khôi phục sản xuất nông nghiệp. Chính quyền đã tịch thu ruộng đất của các phần tử phản động, đem chia cho nông dân, vận động nông dân vào các tổ đổi công, giúp đỡ nông dân tích cực tháo gỡ bom mìn, khuyến khích khai hoang, phục hóa, làm thủy lợi. Vì thế, nông nghiệp nhanh chóng được khôi phục và bước đầu đã có sự phát triển, đáp ứng nhu cầu về lương thực cho nhân dân.
Đặc biệt, các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội được tiến hành rất khân trương. Đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, báo chí được kịp thời sử dụng vào công tác thông tin, tuyên truyền, cô động. Những hoạt động văn hóa lành mạnh được đây mạnh ở khắp mọi nơi, đồng thời với việc nghiêm cam những hoạt động van hóa phan động, đồi trụy, bài trừ những tệ nạn xã hội cũ như mê tín di đoan, mại dâm, ma túy. Cuộc sống văn hoá mới dần dần được xây dựng.
Hệ thống các trường học lần lượt được mở lại. Việc xóa nạn mù chữ được chú trọng. Các địa phương đều phát động phong trào bình dân học vụ, mở các lớp bé túc văn hóa ở khắp nơi. Ngành y tế được xây dựng và đây mạnh hoạt động.
Nhiều đội y tế lưu động được phái xuống các thôn, xã tổ 10 chức tiêm phòng, khám chữa bệnh cho nhân dân, kịp thời dập tắt những 6 dịch. Công tác vệ sinh phòng bệnh, hoạt động thé dục, thé thao cũng được chu ý phát động thành phong trào quần chúng. Tuy nhiên, hậu quả của những năm tháng chiến tranh liên miên còn rất nặng nề về cả kinh tế lẫn xã hội. Nhân dân hai miền còn phải tiếp tục khắc phục trong nhiều năm sau.
Trên cơ sở xác định đường lối chung, đường lỗi xây dựng kinh tế, Đại hội đại biéu toàn quốc lần thứ IV của Dang đã quyết định phương hướng xây dựng một bước nền sản xuất lớn XHCN, đặt nền móng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà. Kế hoạch 5 năm đầu tiên sau khi đất nước thống nhất nhằm hại mục tiêu cơ bản và cấp bách : xây dựng một bước cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, hình thành bước đầu cơ cấu kinh tế mới trong cả nước và cải thiện một bước đời sống của nhân dân lao động. Nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu nêu trên, trong kế hoạch 5 năm 1976 - 1980, chúng ta đã tiến hành củng cố quan hệ sản xuất XHCN ở miền Bắc, cải tạo XHCN ở miền Nam, thống nhất nền kinh tế theo mô hình chung trên phạm vi cả nước. Kết thúc kế hoạch 5 năm 1976 - 1980, chúng ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng như thống nhất đất nước về mặt nhà nước, thiết lập hệ thống chính tri mới trong cả nước.
Trên cơ sở đó, chúng ta đã thực hiện một loạt các chính sách khác nhăm tiến tới thống nhất nước nhà về mọi mặt. Nhân dân ta đã anh dũng chiến đấu chống lai hai cuộc chiến tranh quy mô lớn. Ở biên giới phía tây nam và phía bắc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế với nhân dân Campuchia và nhân dân Lào. Trên mặt trận kinh tế, nhân dân ta đã nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh 11 tế, Ổn định sản xuất và đời sống.
Chúng ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng về phát triển sự nghiệp giáo dục trong cả nước.