phần mở đầu The Body in the Mind (Cơ thể trong tâm trí) (1987: xii- xiii) đã trình bày sáu phần khác nhau về bằng chứng giả thuyết nghiệm thân, đƣợc hiểu là quy tắc ngữ nghĩa có định hƣớng; Langacker [139] với lý thuyết về ngữ pháp tri nhận (lý thuyết đƣợc thúc đẩy bởi các mối quan hệ không gian, với tƣ cách là những trải nghiệm cơ bản của con ngƣời) đã khẳng định sự quan tâm ngày càng lớn đến vai trò của cơ thể trong việc định hình ngôn ngữ và các cấu trúc ý niệm chung; Lakoff trong 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Woman, fire and dangerous things [137] đã tiếp tục những thành quả của ngôn ngữ học tri nhận để đi đến hình thành và xây dựng khái niệm Kinh nghiệm luận (Experientialism). Ông miêu tả chủ nghĩa hiện thực theo kinh nghiệm ở cốt lõi của giả thuyết nghiệm thân đối lập trực tiếp với quan điểm về tính nhiều nghĩa trong ngôn ngữ của triết học truyền thống: “mọi điều cấu thành kinh nghiệm thực tế hoặc tiềm tàng của cá nhân hoặc tập thể– thì không chỉ là quan điểm, chuyển động vận động…mà đặc biệt còn là sự hình thành bên trong về di truyền học của sinh vật và bản chất các mối tƣơng tác trong cả môi trƣờng vật lý lẫn xã hội” [dẫn theo 142, 38]. Nhƣ vậy, cho đến năm 1987, giả thuyết nghiệm thân đã rất phát triển và đƣợc mở rộng hơn nhiều so với nguồn gốc khiêm tốn của nó, vốn chỉ nhƣ một sự tổng hợp về tính định hƣớng của ẩn dụ. Sau đó, trong Philosophy in the Flesh, ở mục 6, Lakoff chính thức đƣa ra thuật ngữ Hiện thực nghiệm thân luận (Embodied Realism) [138, 74] để phân biệt với khách quan luận truyền thống.
Cũng trong công trình này, trƣớc đó, ở mục 3 [138, 16], ông đã đƣa ra hai khía cạnh nhƣ là những phát hiện của khoa học tri nhận củng cố cho giả thuyết nghiệm thân: (1) Lý trí con ngƣời là một dạng của lý trí động vật, một lý trí gắn bó chặt chẽ với cơ thể và những đặc thù của bộ não chúng ta. (2) Thân thể, não bộ và sự tƣơng tác của con ngƣời với môi trƣờng xung quanh hằng ngày cung cấp nền tảng cho những cảm nhận của chúng ta một cách hoàn toàn vô thức. Cảm nhận của chúng ta về cái có thật đƣợc khởi nguồn và cơ bản bị lệ thuộc vào thân thể chúng ta, nhất là bộ phận cảm xúc và cấu trúc cụ thể của não bộ, nhờ đó chúng ta có khả năng tri nhận, chuyển động và thực hiện các thao tác khác. Với công trình này, ông chuyển hƣớng nghiên cứu nghiệm thân từ chỗ đƣợc hiểu rộng nhƣ chủ nghĩa kinh nghiệm sang một phạm vi hẹp và sâu hơn, đó là cách thức mà nền tảng cơ thể chi phối hình thức ngôn ngữ.
Cũng đã xuất hiện những bài nghiên cứu mang tính chất tổng hợp về nghiệm thân và giả thuyết nghiệm thân. Trên Tạp chí Psychonomic Bulletin & Review, tác giả Margaret Wilson [148] viết: “quan điểm nổi bật của tri nhận nghiệm thân cho rằng quá trình tri nhận đƣợc bắt nguồn từ sự tƣơng tác của cơ thể với thế giới. Và có ý kiến rằng chúng ta đã tiến hóa từ sinh vật có hệ thần kinh chủ yếu là để dành 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho quá trình vận động và tri giác, và phần lớn các hoạt động tri nhận là mang tính trực tiếp, có sự tƣơng tác trực tuyến với môi trƣờng”. Mặc dù vấn đề này nhận đƣợc sự hƣởng ứng ngày càng rộng lớn, nhƣng thực tế vẫn có rất nhiều tranh cãi.
Bài viết phân tích và đánh giá sáu quan điểm nổi bật nhất, đó là: (1) Tri nhận trong hoàn cảnh xác định: đƣợc hiểu một cách đơn giản là tri nhận bị ràng buộc trong bối cảnh của môi trƣờng thế giới thực, liên quan đến tri giác và hành động. Đây cũng là nền tảng của tri nhận nghiệm thân. Dù có thể còn nhiều tranh luận nhƣng luận điểm tri nhận trong hoàn cảnh xác định luôn là luận điểm mấu chốt đối với sự tri nhận của con ngƣời. (2) Tri nhận chịu áp lực về thời gian: Quan điểm này nhấn mạnh đến tri nhận trong tƣơng tác với thời gian thực của môi trƣờng.
Ngày càng xuất hiện thƣờng xuyên hơn tuyên bố rằng các tác nhân trong hoàn cảnh xác định phải đối phó với các khó khăn về thời gian. (3) Tri nhận dựa vào môi trƣờng: Quan điểm này cho rằng, vì có những hạn chế trong khả năng xử lý thông tin (ví nhƣ giới hạn trong khả năng chú ý và bộ nhớ làm việc) nên chúng ta khai thác triệt để môi trƣờng để giảm khối lƣợng công việc tri nhận. Chúng ta bắt môi trƣờng phải giữ thông tin hay cung cấp thông tin cho chúng ta, và chúng ta sẽ nhận thông tin đó khi cần. (4) Môi trƣờng là một phần của hệ thống tri nhận: Thông tin giữa tinh thần và thế giới rất nhiều và liên tục.
Nhận thức sâu sắc rằng sự tƣơng tác giữa cơ thể và môi trƣờng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hoạt động tri nhận, một số tác giả đƣa ra khẳng định mạnh mẽ: không chỉ bộ não thúc đẩy hoạt động tri nhận và tri nhận không chỉ là hoạt động của tinh thần, tri nhận bao phủ toàn bộ tình huống tƣơng tác, bao gồm cả tinh thần, cơ thể và môi trƣờng. Vì môi trƣờng là một phần của hệ thống tri nhận nên chúng ta phải nghiên cứu tình huống và tri nhận trong hoàn cảnh xác định. (5) Tri nhận dành cho hành động: Quan điểm này cho rằng tri nhận thúc đẩy hoạt động vận động. Ngƣời ta phát hiê ̣n ra rằ ng đầ u vào thi ̣giác không chỉ là để xây dựng biểu tƣợng bên trong của thế giới nhận thức để rồi việc xử lí những biểu tƣợng này là công việc của lĩnh vực tri nhâ ̣n cao hơn mà thƣ̣c ra nó có thể kích hoạt , định 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hƣớng cho hoạt động vận động.
Chẳng hạn viê ̣c nhin ̀ thấ y mô ̣t hin ̀ h chƣ̃ nhâ ̣t có hƣớng cu ̣ thể ta ̣o điề u kiê ̣n cho viê ̣c thƣ̣c hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣ nắ m bắ t tiế p theo và hê ̣ thố ng thi gi ̣ ác có thể tham gia vào chức năng vận động mà không nhất thiết hành đô ̣ng ấy diễn ra ngay lâ ̣p tƣ́c. (6) Tri nhận gián tiếp dựa vào cơ thể: Đây là quan niệm về sự tri nhâ ̣n nghiê ̣m thân gián tiếp, là cách tri nhận ý niệm hóa, có vẻ nhƣ đƣợc diễn ra tách rời khỏi môi trƣờng. Dù vậy, các hoạt động của tinh thần đều căn cứ vào các cơ chế xử lý cảm giác và kiểm soát vận động trong sự tƣơng tác với môi trƣờng. Trên thƣ̣c tế , nhiề u hoa ̣t đô ̣ng tri nhâ ̣n đƣơ ̣c cho là trƣ̀u tƣơ ̣ng đã có sự vâ ̣n đô ̣ng cảm gi ác theo cách bí mật này.
Nói chung, chƣ́c năng của các nguồ n vâ ̣n đô ̣ng cảm giác này là mô phỏng mô ̣t số khía cạnh của thế giới vật chất nhƣ một phƣơng tiện thể hiện thông tin và suy luận. Mă ̣c dù khiá ca ̣nh tri nhâ ̣n nghiê ̣m thân gián tiếp này ít đƣợc chú ý hơn so với tri nhâ ̣n trong hoàn cảnh xác đinh ̣ , song bằ ng chƣ́ng ủng hô ̣ đã tăng lên lă ̣ng lẽ trong nhiề u năm. Bởi nhƣ̃ng mô phỏng vâ ̣n đô ̣ng cảm giác của các tình huống bên ngoài trong thực tế thực sự có liên quan rô ̣ng raĩ đế n tri nhâ ̣n của con ngƣời. Đánh giá những quan điểm này, tác giả cho rằng ba tuyên bố đầu tiên và tuyên bố thứ năm có một phần chính xác, chúng hữu dụng trong phạm vi khả thi.
Tuyên bố thứ tƣ khá mơ hồ và cần phải bàn luận nhiều thêm nữa. Tuyên bố thứ sáu ít đƣợc chú ý nhất trong các tài liệu về tri nhận nghiệm thân, nhƣng thực tế lại là tuyên bố đáng để tham khảo và có tính thuyết phục nhất. Tác giả khẳng định: có một sự vận động đang đƣợc tiến hành trong khoa học tri nhận để giao cho cơ thể một vai trò chủ chốt trong việc hình thành nên tinh thần. Theo truyền thống, các ngành khác nhau đã xem tinh thần nhƣ một bộ xử lý thông tin trừu tƣợng, sự kết nối của nó với thế giới bên ngoài gần nhƣ không có tầm quan trọng về mặt lý thuyết.
Trong khi đó, những ngƣời đề xƣớng tri nhận nghiệm thân cho rằng: không phải là tinh thần làm việc trên các vấn đề trừu tƣợng, mà là một cơ thể đòi hỏi tinh thần phải thực hiện nhiệm vụ của mình. Theo đó, tinh thần phải đƣợc hiểu trong mối quan hệ của nó và một cơ thể vật lý tƣơng tác với thế giới. Thay vì tâm trí hoa ̣t đô ̣ng để phục vụ cho cơ thể, chúng ta nhận thấy chính cơ thể hoạt động phục vụ tâm trí. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc biệt phải nhắc tới tài liệu tổng hợp về khoa học tri nhận và tri nhận nghiệm thân Oxford Handbook of Cognitive Linguistic [142].
Với 50 chƣơng đƣợc viết bởi các chuyên gia trong lĩnh vực ngôn ngữ học tri nhận, cuốn sách đã đề cập đến một phạm vi rộng lớn, từ những khái niệm cơ bản cho tới những ứng dụng thực tế của lĩnh vực này. Ở chƣơng 2 của cuốn sách, Tim Rohrer viết về nghiệm thân và kinh nghiệm luận (Embodiment and Experientialism), bao gồm 7 phần: 1. Các nghĩa của embodiment (The senses of Embodiment); 3. Nguồn gốc của giả thuyết nghiệm thân (Origins of the Embodiment Hypothesis); 4.
Sự hình thành và mở rộng của giả thuyết nghiệm thân (Elaborations and Extensions of the Embodiment Hypothesis); 5. Các lập thức đƣơng đại của giả thuyết nghiệm thân (Contemporary Formulations of the Embodiment Hypothesis); 6. Các cấp độ của khung lí thuyết điều tra (The „Levels of Investigation‟ Theoretical Framework); 7. Có thể nói, đây là một nghiên cứu tổng hợp về nghiệm thân và giả thuyết nghiệm thân.
Ngay lời dẫn nhập của chƣơng, Tim Rohrer đã khẳng định rằng vấn đề cơ bản của ngôn ngữ là vấn đề hiểu nghĩa và chia sẻ nghĩa, theo đó nghĩa không phải là cái gì đó trừu tƣợng, mang tính mệnh đề hoặc biểu tƣợng nhƣ truyền thống của triết học và ngôn ngữ học đã từng tin tƣởng, mà chúng ta có thể nhìn nhận ngôn ngữ theo cách nó đang đƣợc sử dụng trong thực tế. Và mục đích chính của ngôn ngữ không phải là mô tả khách quan thế giới này mà thay vào đó là để giao tiếp và chia sẻ các trải nghiệm.