Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Hiện trạng phát triển ngành thủy sản tỉnh Khánh Hòa và định hướng phát triển đến năm 2010" được thực hiện bởi sinh viên Phạm Thị Mai (Lớp Địa 4A - K27, Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh) dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Bình vào tháng 5 năm 2004. Đề tài thuộc chuyên ngành Địa lý học (phân ngành Địa lý Kinh tế - Xã hội), xuất phát từ yêu cầu vận dụng lý luận địa lý vào thực tiễn phát triển kinh tế lãnh thổ.
Về bối cảnh thực tiễn, Khánh Hòa là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ sở hữu đường bờ biển dài trên 500 km, hơn 135 km bờ ven đảo, cùng hệ thống đầm vịnh kín gió (vịnh Văn Phong - Bến Gỏi, vịnh Bình Cang - Nha Trang, vịnh Cam Ranh, đầm Nha Phu, đầm Thủy Triều). Địa phương có truyền thống khai thác, nuôi trồng thủy hải sản lâu đời và là trung tâm sản xuất giống thủy sản (đặc biệt là tôm giống) quy mô lớn của cả nước. Mặc dù sản lượng và diện tích nuôi trồng gia tăng trong giai đoạn 1997–2004, sự phát triển của ngành thủy sản tỉnh vẫn thiếu tính ổn định, giá trị tạo ra chưa tương xứng với tiềm năng tự nhiên do những hạn chế trong cơ chế quản lý, tổ chức sản xuất, hạ tầng kỹ thuật và quy hoạch không gian.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá khách quan thực trạng phát triển của ngành thủy sản tỉnh Khánh Hòa; xác định vai trò và ảnh hưởng của ngành đến phát triển kinh tế - xã hội địa phương; đề xuất các định hướng, quy hoạch và giải pháp phát triển bền vững đến năm 2010.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu các nhân tố tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến ngành thủy sản tỉnh Khánh Hòa.
- Nghiên cứu hiện trạng phát triển ngành đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.
- Nghiên cứu tình hình phân bố không gian ngành thủy sản trên địa bàn tỉnh.
- Xác lập định hướng, quy hoạch và giải pháp phát triển ngành thủy sản Khánh Hòa đến năm 2010.
Đối tượng nghiên cứu là các hoạt động kinh tế thủy sản (khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá) dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội. Phạm vi không gian tập trung vào 4 huyện, thị ven biển trọng điểm của tỉnh gồm: huyện Vạn Ninh, huyện Ninh Hòa, thị xã Cam Ranh và thành phố Nha Trang. Phạm vi thời gian phân tích số liệu thực trạng từ năm 1997 đến năm 2004, tầm nhìn quy hoạch đến năm 2010.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng trong nghiên cứu địa lý kinh tế - xã hội, xem xét sự phát triển của ngành thủy sản trong mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa các thành phần tự nhiên (địa hình, đất, thủy văn, sinh vật) với các nhân tố kinh tế - xã hội (dân cư, lao động, hạ tầng, vốn, thị trường), đồng thời đặt kinh tế biển trong mối liên hệ mật thiết với các ngành kinh tế quốc dân khác như giao thông vận tải và du lịch.
Khung pháp lý và chính sách phát triển được tác giả trích dẫn gồm:
- Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28/08/1999 của Chính phủ về việc giao hoặc cho thuê đất, mặt nước, cồn bãi, đầm phá, hồ chứa mặt nước lớn cho các thành phần kinh tế sử dụng vào nuôi trồng thủy sản.
- Nghị quyết số 124/2001/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa khóa III (thông qua tại kỳ họp thứ 4, từ ngày 09/07 đến ngày 12/07/2001) về Chương trình kinh tế biển giai đoạn 2001–2005 và định hướng đến năm 2010.
Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành được áp dụng trong khóa luận gồm:
- Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý, phân loại và phân tích chuỗi số liệu thứ cấp về sản lượng, giá trị, cơ cấu tàu thuyền, diện tích mặt nước và nguồn vốn đầu tư.
- Phương pháp bản đồ - biểu đồ: Sử dụng bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa, xây dựng các bản đồ phân bố không gian và biểu đồ cơ cấu tổng sản phẩm, cơ cấu giá trị sản xuất để trực quan hóa quy luật địa lý.
- Phương pháp thực địa: Khảo sát thực tế tại các vùng nuôi trồng, cảng cá và cơ sở chế biến ven biển nhằm đối chiếu số liệu báo cáo với thực tiễn sản xuất.
- Phương pháp dự báo: Sử dụng chuỗi số liệu lịch sử kết hợp định hướng phát triển kinh tế biển để dự báo sản lượng và nhu cầu phát triển đến năm 2010.
Nguồn dữ liệu của khóa luận được thu thập từ: Sở Thủy sản tỉnh Khánh Hòa, Chi cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa, Sở Nông nghiệp tỉnh Khánh Hòa, Phân viện Quy hoạch Nông nghiệp miền Trung, Viện Hải dương học Nha Trang và Niên giám thống kê tỉnh Khánh Hòa.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành thủy sản tỉnh Khánh Hòa
Chương 1 phân tích hệ thống hai nhóm nhân tố tác động trực tiếp đến sự phân bố và hiệu quả của ngành thủy sản địa phương:
Nhóm nhân tố tự nhiên:
- Vị trí địa lý và địa hình biển: Tọa độ địa lý từ 11°41'53" đến 12°52'35" vĩ độ Bắc và từ 108°40' đến 109°23'24" kinh độ Đông. Thềm lục địa hẹp nhất tại mũi Đại Lãnh; đáy biển nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam trùng với trục kiến tạo địa chất của các vũng vịnh (Văn Phong - Bến Gỏi, Bình Cang - Nha Trang, Thủy Triều - Cam Ranh). Vùng biển nông dưới 30 m có diện tích 2.432 km²; diện tích mặt biển ven bờ (độ sâu 0–50 m) là 1.886,17 km²; tổng quỹ đất và mặt nước đạt 4.776,17 km².
- Tài nguyên đất ven biển: Tổng diện tích đất các huyện thị giáp biển là 1.772 km² (Vạn Ninh 600 km², Ninh Hòa 113 km², Nha Trang 238 km², Cam Ranh 821 km²). Khu vực có độ cao dưới 5 m phục vụ nuôi trồng thủy sản phân bố: Ninh Hòa 5.360 ha, Cam Ranh 5.390 ha, Vạn Ninh 2.000 ha, Nha Trang 1.100 ha.
| Loại đất ven biển |
Ký hiệu |
Diện tích (ha) |
Tỷ lệ (%) |
Đặc điểm nông hóa và thích nghi |
| Đất mặn |
M |
8.615 |
68,10 |
Trầm tích biển trẻ, pH 6,5–7,3, giàu mùn (5–6%), thích hợp nuôi tôm |
| Bãi cát ven biển |
Cm |
2.600 |
20,55 |
Cát trầm tích trẻ, phân bố dải hẹp (50–150 m), địa hình cao 0,5–2 m |
| Đất xám nhiễm mặn |
Xm |
740 |
5,86 |
Địa hình cao >2 m (Ninh Thọ, Vạn Hưng), nghèo dinh dưỡng, pH 5,5–6,0 |
| Đất phù sa nhiễm mặn |
Rm |
695 |
5,49 |
Tiếp giáp đồng bằng phù sa, pH 5,5–6,5, sét 30–35%, đạm tổng số khá |
- Tài nguyên nước và khí hậu: Lưu vực sông Cái Nha Trang rộng 2.000 km² (tổng lượng nước 389,8 triệu m³), sông Đồng Điền rộng 83 km² (60,1 triệu m³); toàn tỉnh có trên 124 công trình thủy lợi (dung tích trữ >120 triệu m³). Trữ lượng nước ngầm ngọt vùng đồng bằng đạt 712 km² với công suất khai thác tính toán khoảng 489.000 m³/ngày. Khí hậu nhiệt đới gió mùa biển, nhiệt độ trung bình 25–26°C, giờ nắng trung bình 2.200 h/năm (Nha Trang) và 2.560 h/năm (Cam Ranh), lượng mưa ven biển thấp (1.200–1.300 mm/năm, Cam Ranh chỉ 1.139 mm/năm), cho phép nuôi tôm 2 vụ/năm, một số nơi đạt 3 vụ/năm.
- Tài nguyên sinh vật: Vùng biển có 4 hệ sinh thái đặc trưng; ghi nhận 154 loài thực vật phù du, 2.000 loài động vật đáy cỡ lớn, 600 loài cá biển (50 loài có giá trị kinh tế). Trữ lượng cá ven bờ ước tính 50–60 ngàn tấn (khai thác cho phép tối đa 36,5 ngàn tấn/năm); trữ lượng cá nổi khơi khai thác cho phép trên 21 ngàn tấn; tổng sản lượng khai thác hải sản cho phép đạt 70 ngàn tấn/năm. Nguồn lợi đặc thù gồm thủy mẫu Macdusac (8–10 ngàn tấn), con ruốc Acetes, yến sào đảo đá.
Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội:
- Hạ tầng cảng cá và tàu thuyền: Toàn tỉnh có 8 cảng và bến cá nhỏ (Cù Lao, Vĩnh Lương, Vĩnh Trường, Đá Bạc), chiều dài cầu cảng dưới 50 m, cơ sở vật chất xuống cấp, mật độ tiếp nhận tối đa khoảng 200 lượt chiếc/ngày. Số lượng tàu thuyền năm 2001 là 4.944 chiếc (tổng công suất 112.178 CV); đến cuối năm 2003 duy trì 4.944 chiếc (trong đó có 2.444 chiếc gắn máy với tổng công suất tăng lên 132.602 CV). Tàu công suất từ 75 CV trở lên chiếm tỷ lệ rất thấp, tăng từ 1,5% (năm 1998) lên 3,9% (năm 2003).
- Chế biến thủy sản: Giai đoạn 1995–1998 có 34 doanh nghiệp chế biến xuất khẩu (3 doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Sở Thủy sản, 5 doanh nghiệp nhà nước khác, 15 doanh nghiệp ngoài quốc doanh). Đến năm 2001, toàn tỉnh có 16 nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh với tổng công suất cấp đông 290 tấn/ngày và hệ thống kho bảo quản đạt 5.940 tấn; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 120 triệu USD.
- Dân số, lao động và vốn: Dân số trung bình năm 2001 là 1.071.528 người. Lao động thủy sản tăng từ 26.120 người lên hơn 58.000 người, trong khi lao động đóng sửa tàu thuyền giảm từ 2.943 người (năm 1991) xuống 630 người (năm 2007). Trình độ học vấn của chủ hộ nghề cá ven bờ thấp (82% tiểu học, 14% trung học, 4% mù chữ). Vốn tín dụng ngân hàng đáp ứng chưa đến 10% nhu cầu sản xuất (đến quý I/2001, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho vay 54 tỷ đồng/3.217 hộ, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển cho vay 6 tỷ đồng/208 hộ).
Chương 2: Hiện trạng phát triển thủy sản tỉnh Khánh Hòa
Chương 2 trình bày bức tranh tổng thể và chi tiết về sự chuyển dịch cơ cấu ngành thủy sản tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn 1997–2004:
- Tốc độ tăng trưởng: Giá trị sản xuất ngành thủy sản tăng trưởng bình quân đạt gần 15%/năm. Giai đoạn 2000–2001 tăng 11,3%, giai đoạn 2002–2003 tăng gần 16%, tuy nhiên có sự chững lại vào năm 2001 thể hiện tính thiếu ổn định của ngành.
- Chuyển dịch cơ cấu sản xuất: Ngành thủy sản ghi nhận bước chuyển dịch mạnh mẽ từ tỷ trọng khai thác sang nuôi trồng. Giai đoạn 1997–1999, khai thác thủy sản chiếm trên 60% tổng giá trị sản xuất; giai đoạn 2000–2004 giảm xuống dưới 50%. Ngược lại, giá trị nuôi trồng thủy sản từ mức dưới 40% đã tăng nhanh, vượt ngưỡng 50% trong giai đoạn 2003–2004.
- Lĩnh vực khai thác và nuôi trồng: Tỉnh phát triển hình thức đánh bắt đầm đăng đặc thù, khai thác cá nổi di cư ven bờ và câu cá ngừ đại dương ngoài khơi. Về nuôi trồng, tỉnh dẫn đầu cả nước về cung cấp giống tôm sú nhân tạo, nuôi tôm sú thương phẩm trên đất mặn bãi triều, nuôi tôm hùm lồng bè, trai cấy ngọc, cá bớp, cá mú và trồng rong sụn tại các vịnh kín Văn Phong, Cam Ranh, Nha Phu.
- Lĩnh vực chế biến: Địa phương duy trì sản lượng chế biến nước mắm truyền thống khoảng 10 triệu lít/năm phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu; phát triển các dòng sản phẩm đồ khô tẩm gia vị ăn liền sang thị trường Nhật Bản, Mỹ, EU.
- Đóng góp kinh tế - xã hội: Ngành thủy sản đóng góp từ 20% đến 21% GDP toàn tỉnh, tạo việc làm cho trên 58.000 lao động. Tuy nhiên, sự phân hóa giàu nghèo trong cộng đồng diễn ra sâu sắc: nhóm hộ nuôi tôm sú, tôm hùm và sản xuất con giống có thu nhập cao, trong khi nhóm ngư dân khai thác quy mô nhỏ bãi ngang ven bờ vẫn thuộc nhóm nghèo nhất.
- Tác động môi trường: Sự gia tăng nhanh của các đìa nuôi tôm sú làm suy giảm nghiêm trọng diện tích rừng ngập mặn (từ 2.000 ha năm 1963 giảm xuống chỉ còn vài trăm ha rừng thứ sinh). Môi trường nước tại các vịnh Văn Phong, Bến Gỏi, Bình Cang, Cam Ranh và đầm Nha Phu bị ô nhiễm hữu cơ, nitrate, coliform, kim loại nặng (Fe, Zn) và hydrocarbon từ hoạt động nuôi trồng, tàu thuyền và xả thải sinh hoạt.
Chương 3: Định hướng và một vài giải pháp phát triển ngành thủy sản tỉnh Khánh Hòa đến năm 2010
Chương 3 xây dựng các giải pháp và quy hoạch cụ thể dựa trên Chương trình kinh tế biển của tỉnh:
- Căn cứ định hướng: Dựa trên hiện trạng nguồn lợi cá nổi cho phép khai thác (tối đa 70 ngàn tấn/năm), quỹ đất mặt nước ven bờ (4.776,17 km²), năng lực chế biến xuất khẩu và Nghị quyết 124/2001/NQ-HĐND.
- Quy hoạch khai thác và nuôi trồng: Giữ ổn định sản lượng khai thác ven bờ ở mức 36,5 ngàn tấn/năm để bảo vệ bãi giống tự nhiên; chuyển dịch mạnh sang khai thác xa bờ đối với cá ngừ, cá thu, mực xà; quy hoạch lại các vùng nuôi tôm sú công nghiệp gắn với cấp thoát nước riêng biệt; duy trì 500–2.000 ha nuôi tôm sú thương phẩm ổn định; phát triển 5.000 lồng nuôi cá biển, tôm hùm ở các vịnh thích hợp; khôi phục diện tích rừng ngập mặn tối thiểu từ 100 đến 400 ha.
- Các nhóm giải pháp đồng bộ:
- Giải pháp tổ chức quy hoạch: Quy hoạch chi tiết vùng mặt nước, cồn bãi đầm phá; phân vùng ranh giới giữa bảo tồn rạn san hô, rừng ngập mặn với khu vực phát triển lồng bè và đìa nuôi.
- Giải pháp hạ tầng và công nghệ: Đầu tư nâng cấp các cảng cá Vĩnh Lương, Đá Bạc; xây dựng Trung tâm sản xuất giống tôm Cam Lập và Khu dịch vụ hậu cần nghề cá Bắc Hòn Ông; đóng mới đội tàu công suất lớn (>75 CV), giảm dần số lượng bè và tàu công suất nhỏ đánh bắt ven bờ.
- Giải pháp vốn và cơ chế chính sách: Triển khai hiệu quả Nghị định 85/1999/NĐ-CP về giao và cho thuê mặt nước; nâng hạn mức tín dụng của các ngân hàng thương mại phục vụ hộ nuôi trồng; đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư ngoài quốc doanh và FDI.
- Giải pháp thị trường và xã hội: Mở rộng thị trường xuất khẩu EU, Mỹ, Nhật; tổ chức các lớp đào tạo nghề, phổ cập kiến thức kỹ thuật nhằm nâng cao trình độ học vấn cho 82% lao động nghề cá nhỏ ven bờ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa hệ thống số liệu thực chứng về điều kiện tự nhiên và hiện trạng kinh tế thủy sản tỉnh Khánh Hòa:
| Chỉ tiêu nghiên cứu |
Dữ liệu định lượng trích xuất từ văn bản |
| Đường bờ biển và thềm lục địa |
Bờ biển dài >500 km, bờ đảo 135 km, vùng biển nông <30 m rộng 2.432 km² |
| Quỹ đất ven biển dưới 5 m cho thủy sản |
13.850 ha (Cam Ranh 5.390 ha, Ninh Hòa 5.360 ha, Vạn Ninh 2.000 ha, Nha Trang 1.100 ha) |
| Tài nguyên đất mặn (M) |
8.615 ha (chiếm 68,10% tổng diện tích vùng nghiên cứu giáp biển) |
| Tiềm năng khai thác hải sản |
70 ngàn tấn/năm (cá ven bờ tối đa 36,5 ngàn tấn/năm; cá khơi >21 ngàn tấn/năm) |
| Đội tàu thuyền (năm 2003) |
4.944 chiếc (2.444 chiếc gắn máy, tổng công suất 132.602 CV, tàu >75 CV chiếm 3,9%) |
| Năng lực chế biến đông lạnh (năm 2001) |
16 nhà máy, cấp đông 290 tấn/ngày, kho lạnh 5.940 tấn, kim ngạch 120 triệu USD |
| Lao động ngành thủy sản |
Tăng từ 26.120 người lên >58.000 người (lao động đóng tàu giảm còn 630 người) |
| Tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản |
Tăng bình quân gần 15%/năm (giai đoạn 1997–2004) |
| Đóng góp vào kinh tế địa phương |
Chiếm 20% đến 21% tổng sản phẩm (GDP) toàn tỉnh Khánh Hòa |
Về mặt đóng góp, khóa luận là công trình nghiên cứu địa lý chuyên khảo đầu tiên tại thời điểm 2004 phân tích một cách toàn diện và có hệ thống hiện trạng ngành thủy sản tỉnh Khánh Hòa từ góc độ không gian lãnh thổ và cơ cấu kinh tế. Tác giả đã làm rõ xu hướng chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành từ tỷ trọng khai thác (>60% giai đoạn 1997–1999) sang nuôi trồng (>50% giai đoạn 2003–2004), đồng thời chỉ ra những điểm nghẽn về hạ tầng cảng cá và áp lực suy thoái tài nguyên rừng ngập mặn để đề xuất các giải pháp gắn với mục tiêu năm 2010.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Dữ liệu định lượng về trữ lượng một số loài động vật đáy và lưu lượng khai thác nước ngầm chi tiết tại từng tiểu vùng ven biển chưa được thống kê đầy đủ do hạn chế về nguồn tài liệu điều tra cơ bản lúc bấy giờ.
- Đề tài tập trung chủ yếu vào 4 huyện, thị ven biển (Vạn Ninh, Ninh Hòa, Cam Ranh, Nha Trang), chưa phân tích sâu hoạt động thủy sản nội địa và vùng biển xa bờ thuộc huyện đảo Trường Sa.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Cập nhật số liệu biến động ngành thủy sản sau năm 2004 để đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu quy hoạch đến năm 2010.
- Nghiên cứu sâu hơn về tác động môi trường liên vùng giữa lưu vực sông và các vịnh kín, các mô hình bảo tồn rạn san hô kết hợp du lịch sinh thái biển bền vững.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Địa lý học, Địa lý Kinh tế, Kinh tế Nông nghiệp - Thủy sản và Quản lý Tài nguyên Môi trường khi tìm hiểu về phương pháp nghiên cứu địa lý ngành.
Nội dung bảng biểu thống kê chi tiết về thổ nhưỡng ven biển (Chương 1) và chuỗi phân tích cơ cấu giá trị sản xuất thủy sản giai đoạn 1997–2004 (Chương 2) là tư liệu lịch sử có giá trị khoa học cho các cơ quan nghiên cứu quy hoạch phát triển kinh tế biển tỉnh Khánh Hòa và khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu giá trị sản xuất ngành thủy sản tỉnh Khánh Hòa chuyển dịch như thế nào trong giai đoạn 1997–2004?
Trong giai đoạn 1997–1999, ngành khai thác chiếm ưu thế tuyệt đối với hơn 60% tổng giá trị sản xuất. Từ năm 2000 đến 2004, tỷ trọng khai thác giảm xuống dưới 50%, nhường chỗ cho sự tăng trưởng nhanh của ngành nuôi trồng thủy sản (đạt trên 40% từ năm 2000 và vượt ngưỡng 50% trong giai đoạn 2003–2004). Tốc độ tăng trưởng giá trị toàn ngành đạt bình quân gần 15%/năm.
2. Năng lực tàu thuyền đánh bắt của tỉnh Khánh Hòa đến năm 2003 có đặc điểm gì?
Đến cuối năm 2003, toàn tỉnh có 4.944 tàu thuyền (trong đó 2.444 chiếc gắn máy với tổng công suất 132.602 CV). Tàu thuyền chủ yếu làm bằng gỗ theo mẫu dân gian, công suất nhỏ. Tàu có công suất từ 75 CV trở lên chỉ chiếm 3,9% (năm 1998 là 1,5%), cho thấy năng lực đánh bắt xa bờ còn hạn chế.
3. Diện tích các loại đất vùng ven biển (độ cao dưới 5 m) của Khánh Hòa phân bố như thế nào?
Vùng đất ven biển dưới 5 m phục vụ thủy sản gồm 4 loại chính với tổng diện tích nghiên cứu: đất mặn (M) chiếm 8.615 ha (68,10%), bãi cát ven biển (Cm) chiếm 2.600 ha (20,55%), đất xám nhiễm mặn (Xm) chiếm 740 ha (5,86%) và đất phù sa nhiễm mặn (Rm) chiếm 695 ha (5,49%).
4. Sự phát triển của nghề nuôi tôm sú đã ảnh hưởng như thế nào đến diện tích rừng ngập mặn tại Khánh Hòa?
Việc mở rộng diện tích đìa nuôi tôm sú tự phát đã tàn phá nghiêm trọng hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển. Từ diện tích khoảng 2.000 ha vào năm 1963 (tập trung tại vịnh Bình Cang, Nha Trang, Cam Ranh), đến thời điểm nghiên cứu chỉ còn lại vài trăm ha rừng thứ sinh ở khu vực cửa sông.
5. Cơ sở hạ tầng cảng cá của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn này gặp phải những trở ngại gì?
Toàn tỉnh chỉ có 8 cảng và bến cá quy mô nhỏ (Cù Lao, Vĩnh Lương, Vĩnh Trường, Đá Bạc) với chiều dài cầu cảng không quá 50 m, hạ tầng xuống cấp, chỉ tiếp nhận được tàu thuyền công suất nhỏ với mật độ tối đa khoảng 200 lượt chiếc/ngày, gây khó khăn lớn cho việc bốc dỡ sản phẩm và cung ứng dịch vụ hậu cần.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Mai đã hệ thống hóa toàn diện các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đánh giá chính xác hiện trạng phát triển ngành thủy sản tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 1997–2004. Công trình làm rõ sự chuyển dịch tích cực của cơ cấu sản xuất từ khai thác sang nuôi trồng, đồng thời phản ánh khách quan những bất cập về hạ tầng kỹ thuật cảng cá, nguồn vốn tín dụng và suy thoái môi trường ven bờ. Các định hướng và giải pháp đề xuất đến năm 2010 bám sát quy hoạch kinh tế biển của tỉnh, đóng góp cơ sở khoa học thiết thực cho công tác quản lý và phát triển bền vững ngành thủy sản địa phương.