Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Một số khái niệm chung 1. Ngành thủy sản Thủy sản là sản vật khai thác được từ trong môi trường nước có thé qua hay không qua khâu nuôi ng. Các sản vật này chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là động vật và thực vật.
Ngành thủy sản là một ngành bao gồm nhiều lĩnh vực từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến sản phẩm thủy sản. Nuôi trằng thủy sản ® Nuôi trồng thủy sản là một khái niệm dùng dé chi tất cả các hình thức nuôi trồng động thực vật thủy sinh ở các môi trường ngọt, lg, mặn (Pillay, 1990). Căn cứ theo đặc tính môi trường sống có thé phan thành thủy sản nước ngọt va thuỷ sản mặn, lợ. + Thủy sản nước ngọt là những loài có hết hay hay phần lớn đời sống trong môi trường nước ngọt như cá tra, cá mẻ vinh, tôm cảng xanh,.
+ Thủy sản mặn, lợ là những loài có hoàn toàn chu kỳ sống trong môi trường nước lg hoặc mặn như tôm sú, tôm him, cá chém, cá mú,. Tuy nhiên, có những loài thủy sản sống được cả trong môi trường nước ngọt và nước Ig như cá rô phi, cá nau,. ® Nuôi thủy sản thâm canh: là hình thức nuôi có năng suất dưới 200 tắn/ha/năm; kiểm soát tốt các điều kiện nuôi; chi phí đầu tư ban đầu, kỹ thuật áp dụng và hiệu quả sản xuất đều cao; và có xu hướng tiến tới chủ động kiểm soát tất 10 cả các điều kiện nuôi (khí hậu và chất lượng nước); và các hệ thống nuôi có tính nhân tạo. Nguồn: [2] ® Nuôi thủy sản bán thâm canh: là hình thức nuôi có năng suất từ 2-20 tân/ha/năm; lệ thuộc nhiều vào nguồn thức ăn tự nhiên nhờ vào bón phân hay thức ăn bồ sung; giống được bổ sung từ các trại (hay là giống nhân tạo); bón phân định ky, trao đổi nước hay sục khí định kỷ; cắp nước bằng máy bơm hay tự chảy.
Nuôi trong ao hay bè đơn giản. Nguén: [2] ® Nuôi thủy sản quảng canh: là hình thức nuôi mà mức độ kiểm soát hệ thống nuôi thấp (môi trường, thức ăn, bệnh dịch,.); mức độ đầu tư ban đầu, kỹ thuật áp dụng và quả sản xuất đều thấp (năng suất dưới 500 kg/ha/năm); phụ thuộc nhiều vào thời tiết, chất lượng nước; nuôi tận dụng mặt nước tự nhiên ( ví dy dim, phá, vịnh, eo ngách) và không chủ động được loại thức ăn tự nhiên cho cá. Xguỏn: [2] © Nuôi quảng canh cái tiến: là hình thức nuôi có năng suất từ 0,5-5 tắn/ha/năm; có thé cho ăn bổ sung bằng thức ăn chất lượng thấp; giếng được sản xuất từ các trại (giống nhân tạo) hay thu gom ngoài tự nhiên; bón phân vô cơ hay hữu cơ thường xuyên; quan sát một số yếu tế chất lượng nước đơn giản. Có nhiều loại ao khác nhau được thiết kế cho nuôi thủy sản như ao cho cá đẻ, ao nuôi cá thương phẩm,.
Nguồn: [2] ® Nuôi bè: là hình thức nuôi các loài thủy sản trong các bẻ, chủ yếu làm ning gỗ và có kích thước lớn. Thuật ngữ bè thường được dùng phổ biến ở vùng Nam Bộ dé chỉ các bè nuôi cá tra, cá ba sa, cá mè vinh,. Kích cỡ rất khác nhau từ đưới 100m’ đến hơn 1000m”/ bè. Tuy nhiên nuôi lng cũng có thé chỉ hình thức nuôi trong lồng làm bằng tre, nứa, gỗ,.
kích thước thường nhỏ. Nguồn: [2] ® Nuôi bãi triểu: là hình thức nuôi quảng canh sò huyết, vem, hau, điệp, nghêu,. trên nên bãi triểu ven biển. Sau một thời gian nuôi thi chúng được thu hoạch bằng phương pháp cào lớp bùn đáy.
Phương thức này cũng được dùng trong trồng rong biển. Đánh bắt thủy sản Đánh bắt thủy sản là hoạt động đánh bắt từ ao hỗ, sông ngòi, biển và đại dương các loài thủy sản khác nhau. Tùy theo tập tính sinh sống của các loài thủy sản ở các vùng nước khác nhau (vùng khơi, vùng lộng, ting đáy, ting mặt), người ta phải sử dụng nhiều loại tau thuyén và ngư cụ khác nhau, được phân chia ra thành những nghé đánh bắt khác nhau. ® Nghẻ lưới kéo đánh bắt thủy sản sinh sống ở ting đáy, nền đáy biển tương đối bằng phẳng, độ sâu thường từ 20 - 100m.
Nếu phân loại theo đối tượng đánh bắt chính là cá và tôm thì nghề lưới kéo gồm có hai loại: lưới kéo đánh cá và lưới kéo đánh tôm. Nghề lưới kéo đánh cá thường phải sử đụng tàu thuyền có công suất lớn kéo chiếc lưới hình dang túi, miệng túi được mở lớn bằng giéng phao ở trên, giéng chi ở dưới và hai cánh lưới ở hai bên cào sát đáy biển để bắt cá. Nghề lưới kéo phổ biến là ding hai tàu để kéo lưới gọi là lưới kéo đôi (giã cào đôi), nếu ding một tàu kéo lưới thì gọi là lưới kéo đơn (giã cào đơn). Nghề lưới kéo đánh bắt được nhiều loài cá, tôm, mực sống ting đáy và gần đáy như: cá mối, cá phèn, cá mú, cá dd, cá hé, cá trac, cá liệt, mực nang, mực ống.
Xguồn: (14) ® Nghề lưới váy (còn gọi là nghề vây rút chì), nguyên tắc đánh bắt của nghề lưới vây là khi phát hiện đàn cá, người ta dùng tau thả lưới vây thành vòng tròn xung quanh đàn cá rồi kéo day rút gọn giéng chi để thắt kin đáy không cho đản ca thoát xuống dưới, sau đó thu dần vàng lưới, dồn cá vào tùng lưới rồi dùng vợt xúc cá 12 lên tàu. Nghề lưới vây đánh bắt đàn cá ban ngảy gọi là lưới vây ngày. Nghé lưới vây dùng ánh sáng đánh bắt cá ban đêm gọi là nghẻ lưới vây ánh sáng. Ngư trường hoạt động th ư ờng từ vùng nước ven bờ ra đến vùng lộng, nơi có các đàn cá thường tập trung trú ngụ quanh vùng gò rạn hoặc gốc chả rao.
Trên nguyên tắc đánh bắt của lưới ré, có các nghẻ lưới cản (lưới rê niléng), lưới rê cước, ré đáy, lưới chudn. Trong đó nghề lưới cản là nghề quan trọng nhất. Nghé lưới cản đánh bắt các loại cá đi chuyển ting nổi như cá ngừ, cá thu, cả nục lớn. Ngư trường đánh bắt khá rộng, từ vùng biển ven bờ ra đến vùng khơi.
Xuất khẩu Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động ngoại thương trong đó hàng hóa và địch vụ được bán cho nước ngoai nhằm mục đích thu ngoại tệ. Xuất khẩu thủy sản cũng là một bộ phận của hoạt động ngoại thương trong đó hàng hóa và dịch vụ thủy sản được bán cho nước ngoài nhằm mục đích thu ngoại tệ. Vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân: - Nguồn cung cap đạm động vật bỏ dưỡng cho con người: Thuy sản là nguồn cung cấp đạm động vật quan trọng cho con người. Trong hải sản có nhiều protein và nhiều chất khoáng với hàm lượng lý tưởng mà các thức ăn khác không theo kịp: đồng, kali, kẽm, vitamin B3, vitamin B12,.
Theo thống kê nguồn động vật thủy sản cung cấp cho nhân loại trên 20% tổng số protein của thực phẩm, đặc biệt ở nhiều nước có thể lên đến 50%. Giá trị dinh dưỡng của thịt cá cũng giống như thịt gia súc nghĩa là protein của thịt cá đầy đủ các loại axit amin, mà đặc biệt là các axit amin không thé thay thế. Thịt cá tươi có mùi vị thơm ngon, dé tiêu hóa, dé hấp thu. 13 Dau cá ngoài cung cấp lipid cho con người còn có giá trị sinh học rat cao, đặc biệt là các axit béo không no có tác dụng lớn trong việc trong trao đổi chất của cơ thể.
Ngoài ra lipid của động vật thủy sản còn gidu viatamin A và D. Chính vi vậy, thủy sản trở thành nguồn thực phẩm quan trọng trong bữa ăn hằng ngày của con người. Mức tiêu thụ thủy sản ngày càng tăng cao, năm 2008 đạt 17 kg/người va đến năm 2010 da đạt khoảng 20,4 kg/người. Không chi là nguồn thực phẩm giàu chất dinh dường thủy sản còn có tác dụng chữa bệnh cho con người như sản xuất thuốc chữa bệnh, thực phẩm chức năng.
Sụn cá mập có tác dụng chống viêm, chống thắp khớp, phòng và chống bệnh thoái hóa khớp, chống lão hóa xương. Các chất 3-omega: DHA và EPA có trong gan cá biển chữa bệnh tim mạch, chếng lão hóa, phát triển trí não.Tảo đỏ và tảo nâu chứa nhiều caroten, đó là nguồn sản xuất ra caroten để bào chế các sản phẩm bẻ sung dinh đưỡng. Tảo đỏ và táo nâu còn chứa nhiều vitamin C, một số tao còn chứa vitamin B12 (thực vật trên can không chứa vitamin B12). Tảo đỏ còn có chứa EPA.
Các loại rong tảo có chứa nhiều chat xo, rất có lợi cho hệ tiêu hoá của người. Các loại chất sợi xơ hòa tan có tác dụng phòng bệnh cao cholesterol và đường huyết cao. Và còn vô số loài thủy sản khác có tác dụng chữa bệnh như: cao rắn biển có tác dụng điều trị bệnh thắp khớp, viêm khớp, đau lưng; cá ngựa có chứa enzyme sinh tổng hợp prostaglandin, là chất đóng vai trò điều hòa thần kinh, hormone và hệ miễn dịch,. Có thể nói, với y học hiện đại, thủy sản là đối tượng đầy tiém năng, nhéu triển vọng để nghiên cứu tìm kiếm các thuốc điều trị ung thư, chống virus và trị các bệnh nan y khác.
- Thủy sản là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm như: chế biến nước mắm, chế biến đề hộp, chế biến đông lạnh, chế biến hàng khô, chế biến bột cá,. đáp ứng nhu cầu của con người. - Thúy sản là mặt hàng xuất khâu có giá trị: Thủy sản là sản phẩm được giao địch nhiều nhất trong số hàng hoá thực phẩm trên thé giới. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản toàn cầu tăng 9,5% vào năm 2006, 7% lá năm 2007, lên đến con số ki lục 92 tỷ USD và đến năm 2008 đạt 102 t i USD.
Xuất khẩu thuỷ sản hiện chiếm 38% sản lượng thuỷ sản toàn cầu, với khoảng 145 triệu tắn. Một nửa số thuỷ sản xuất khẩu đến từ các quốc gia đang phát triển, trong khi các nước phát triển nhập khẩu tới 80% tổng giá trị thủy sản thế giới mỗi năm. Các nước dang phát triển tiếp tục khẳng định vị trí của minh trong ngành thuỷ sản, chiếm 50% sản lượng thương mại thuỷ sản toàn cầu, chiếm 27% giá trị, tương đương 25 tỷ USD. Ở Việt Nam, thủy sản là một trong những mặt hàng đem lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
Đặc biệt, tôm, ca tra, mực là 3 mặt hàng xuất khẩu chính của thủy san Việt Nam. Năm 2008, tổng kim ngạch xuất khẩu ngành thủy sản đạt hơn 4,5 ty USD, riêng tôm đông lạnh đạt hơn 1,5 tỷ USD, cá tra xắp xi 1,5 tỷ USD.