Luận Văn Thạc Sĩ Về Ngành Thép Việt Nam Trong Tiến Trình Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế

Luận văn thạc sĩ UEB phân tích ngành thép Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nêu rõ thách thức và cơ hội phát triển.

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2006-2010, 2020

134
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG THÉP THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN NGÀNH THÉP

1.1. NGÀNH THÉP THẾ GIỚI: LỊCH SỬ, HIỆN TẠI VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN

1.1.1. Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển của ngành thép

1.1.2. Điểm qua tình hình tăng trưởng sản xuất và tiêu thụ thép trên thế giới những năm gần đây

1.1.3. Những cường quốc sản xuất thép và những “luật chơi” mang tính phổ biến trên thị trường thép thế giới hiện nay

1.1.4. Động thái mới của thị trường thép thế giới những năm gần đây và xu hướng phát triển những năm tới

1.2. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT-TIÊU THỤ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA NGÀNH THÉP

1.2.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc

1.2.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc

1.2.3. Kinh nghiệm của một số nước ASEAN

1.2.4. Tổng kết bước đầu về một số bài học đối với Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐANG ĐẶT RA

2.1. KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM

2.2. THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM HIỆN NAY

2.2.1. Về công nghệ sản xuất và năng lực quản lý ngành của Tổng công ty Thép Việt Nam (VSC) và các doanh nghiệp ngoài VSC

2.2.2. Về thiết bị và công nghệ cán thép

2.2.3. Về năng lực quản lý ngành của VSC

2.3. Khả năng cạnh tranh và hội nhập của ngành thép Việt Nam hiện nay

2.4. ĐÁNH GIÁ TỔNG THỂ VỀ NGÀNH THÉP VIỆT NAM

2.4.1. Những thành tựu nổi bật của ngành thép trong những năm đổi mới, mở cửa và hội nhập

2.4.2. Những vấn đề đặt ra cho ngành thép Việt Nam trong quá trình hội nhập

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH THÉP VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 VÀ ĐẾN NĂM 2020

3.1. VỀ XU HƯỚNG VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI

3.1.1. Những nhân tố mới có ảnh hưởng đến khả năng phát triển của ngành thép Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI

3.1.2. Những biến động mới có thể xảy ra về tiêu thụ và giá thép trên thị trường thế giới và ảnh hưởng đến ngành thép Việt Nam

3.1.3. Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thép ở Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2010 và dự báo đến năm 2020

3.1.4. Cơ hội và thách thức đối với ngành thép khi Việt Nam gia nhập WTO

3.2. Triển vọng và định hướng phát triển của ngành thép Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 và đến năm 2020

3.2.1. Khả năng phát triển của khối sản xuất thành viên và liên doanh với Tổng công ty Thép Việt Nam (VSC)

3.2.2. Khả năng phát triển của khối sản xuất, kinh doanh ngoài VSC

3.3. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

3.3.1. Giải pháp về cơ chế chính sách của Nhà nước

3.3.2. Giải pháp để hội nhập quốc tế của ngành thép Việt Nam

3.3.3. Giải pháp bên trong của ngành thép Việt Nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU.6 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG THÉP THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN NGÀNH THÉP 1.1 - NGÀNH THÉP THẾ GIỚI: LỊCH SỬ, HIỆN TẠI VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN.1 - Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển của ngành thép.2 - Điểm qua tình hình tăng trưởng sản xuất và tiêu thụ thép trên thế giới những năm gần đây.3 - Những cường quốc sản xuất thép và những “luật chơi” mang tính phổ biến trên thị trường thép thế giới hiện nay.4 - Động thái mới của thị trường thép thế giới những năm gần đây và xu hướng phát triển những năm tới.2 - KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT-TIÊU THỤ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA NGÀNH THÉP.1 - Kinh nghiệm của Trung Quốc.2 - Kinh nghiệm của Hàn Quốc.3 - Kinh nghiệm của một số nước ASEAN.4 - Tổng kết bước đầu về một số bài học đối với Việt Nam. 36 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐANG ĐẶT RA.1- KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM.2 - THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM HIỆN NAY.1 - Về công nghệ sản xuất và năng lực quản lý ngành của Tổng công ty Thép Việt Nam (VSC) và các doanh nghiệp ngoài VSC.2 - Về thiết bị và công nghệ cán thép .3 - Về năng lực quản lý ngành của VSC.2 - Khả năng cạnh tranh và hội nhập của ngành thép Việt Nam hiện nay.3 - ĐÁNH GIÁ TỔNG THỂ VỀ NGÀNH THÉP VIỆT NAM .1 - Những thành tựu nổi bật của ngành thép trong những năm đổi mới, mở cửa và hội nhập.2 - Những vấn đề đặt ra cho ngành thép Việt Nam trong quá trình hội nhập. 74 CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH THÉP VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 VÀ ĐẾN NĂM 2020.1 - VỀ XU HƯỚNG VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI3.1 - VỀ XU HƯỚNG VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI.1 - Những nhân tố mới có ảnh hưởng đến khả năng phát triển của ngành thép Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI.1 - Những biến động mới có thể xảy ra về tiêu thụ và giá thép trên thị trường thế giới và ảnh hưởng đến ngành thép Việt Nam.2 - Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thép ở Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2010 và dự báo đến năm 2020.3 - Cơ hội và thách thức đối với ngành thép khi Việt Nam gia nhập WTO.2 - Triển vọng và định hướng phát triển của ngành thép Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 và đến năm 2020.1 - Khả năng phát triển của khối sản xuất thành viên và liên doanh với Tổng công ty Thép Việt Nam (VSC).2 - Khả năng phát triển của khối sản xuất, kinh doanh ngoài VSC.2 - CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN3.1 - Giải pháp về cơ chế chính sách của Nhà nước.1 - Giải pháp về cơ chế chính sách của Nhà nước.2 - Giải pháp để hội nhập quốc tế của ngành thép Việt Nam.3 - Giải pháp bên trong của ngành thép Việt Nam. 125 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong hai thập kỷ đổi mới 1986-2005, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với 160 nước và vùng lãnh thổ, trong đó đã ký kết được 90 hiệp định thương mại song phương, có thoả thuận đối xử tối huệ quốc với 82 quốc gia; đồng thời còn tham gia nhiều tổ chức kinh tế của khu vực và thế giới. Nhờ kiên trì thực hiện đường lối đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng bị bao vây cấm vận, tạo dựng được môi trường quốc tế và khu vực thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế đất nước, GDP tăng trưởng bình quân 7,2%/năm trong giai đoạn 1991-2000, năm 2003 đạt 7,24%, năm 2004 là 7,7%, năm 2005 đạt 8,4%, và năm 2006 ước đạt 8,5% - là nước có tốc độ tăng trưởng GDP thứ hai thế giới, sau Trung Quốc. Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và nhu cầu phát triển của xã hội cũng đã và đang đặt ra hàng loạt vấn đề đối với ngành thép của Việt Nam. 20 năm đổi mới vừa qua cũng là thời kỳ phát triển khá mạnh của ngành thép Việt Nam. Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, đã dần hình thành một hệ thống tiêu thụ và cung ứng thép hoàn toàn mới so với thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp, trong đó có sự tham gia tích cực của hầu hết thành phần kinh tế. Trong bối cảnh đó, Nhà nước khó kiểm soát được giá cả và chất lượng thép xây dựng, nếu không có một ngành sản xuất thép đủ mạnh trong nước và những cơ chế chính sách phù hợp đối với ngành này. Do đó, từ giữa năm 1994, Chính phủ đã quyết định sáp nhập Tổng công ty Kim khí vào Tổng công ty Thép Việt Nam, và cũng từ đó, vai trò, vị trí của Tổng công ty Thép Việt Nam (VSC) đã trở nên quan trọng hơn so với các thời kỳ trước đây, nhất là trong việc đáp ứng nhu cầu và bình ổn giá thép trong nước. Ngày 12 tháng 4 năm 1995, Bộ Chính trị đã có văn bản kết luận số 112- TB/TW về chiến lược phát triển sản xuất thép đến năm 2010, trong đó nhấn mạnh: 2 "Thép là vật liệu chủ yếu của nhiều ngành công nghiệp, có vai trò quyết định tới sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong những năm qua, ngành thép đã có nhiều cố gắng khai thác, cải tạo và mở rộng những cơ sở sản xuất cũ và liên doanh với nước ngoài tăng năng lực sản xuất và sản lượng thép hàng năm với tốc độ khá nhanh. Tuy nhiên so với yêu cầu của đất nước thì mức sản xuất thép hiện nay còn rất thấp. Phát triển nhanh ngành thép là một yêu cầu khách quan, cấp bách và có ý nghĩa chiến lược. Ngoài việc đáp ứng đủ thép xây dựng, ngành thép phải quan tâm xây dựng nhà máy chuyên sản xuất các loại thép có chất lượng cao, thép hợp kim, và một số loại thép đặc biệt phục vụ ngành chế tạo máy và công nghiệp quốc phòng.Việc đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề có đủ trình độ tiếp nhận những trang thiết bị hiện đại và công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực luyện kim nhằm thực hiện chiến lược phát triển sản xuất thép tới năm 2010 là một đòi hỏi rất bức thiết. Ban Cán sự đảng các Bộ, ngành có liên quan cần có kế hoạch đào tạo hàng năm tại các trường trong nước và gửi đi đào tạo ở nước ngoài." Các công ty lưu thông thành viên của VSC chuyên kinh doanh các sản phẩm kim khí đã phải vượt qua nhiều khó khăn để thích ứng với tình hình mới. Tuy nhiên, qua hoạt động thực tế, các công ty này đã và đang phải đối mặt với những thách thức mới, đặc biệt là sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường. Các phương thức quản lý cũ không còn phù hợp nữa, vì bộc lộ quá nhiều điểm bất hợp lý, dẫn đến giảm khả năng kinh doanh có lãi. Hiện nay, vẫn chưa có được sự gắn kết chặt chẽ và hài hoà giữa các đơn vị thành viên của VSC trên lĩnh vực lưu thông; sự phối hợp giữa các đơn vị còn rời rạc, tình trạng chồng chéo về tổ chức mạng lưới tiêu thụ, cạnh tranh nội bộ còn khá phổ biến, gây ra không ít những tổn thất chung, làm giảm sức mạnh tổng hợp và những lợi thế vốn có của một tổng công ty nhà nước trên thương trường. Mặt khác, trong điều kiện nước ta phải thực hiện đầy đủ các cam kết tự do hoá thương mại theo AFTA, và nhất là khi chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì chính sách bảo hộ của Nhà nước đối với ngành thép sẽ phải thay đổi một cách căn bản. Những diễn biến này đã và sẽ mang đến những cơ hội, thách thức lớn đối với các hoạt động sản xuất-kinh doanh của VSC và của ngành thép Việt Nam nói chung. 3 Những vấn đề bức xúc nêu trên đòi hỏi VSC phải đổi mới các mô hình hoạt động sản xuất-kinh doanh, cơ cấu và phương thức hoạt động của hệ thống kinh doanh, khẳng định được vai trò chủ đạo của VSC đối với thị trường thép Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU: Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trong những năm gần đây đã có một số văn kiện của Đảng và Nhà nước, một số công trình khoa học đề cập đến hoặc nghiên cứu về ngành thép Việt Nam: Tháng 3 năm 1995, Bộ Chính trị đã thông qua “Chiến lƣợc phát triển ngành thép Việt Nam đến năm 2010”, và sau đó, Hội đồng thẩm định Nhà nước đã thẩm định và điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành thép Việt Nam đến năm 2010, trình Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn. Tháng 6 năm 1997, Chính phủ đã đề nghị Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) kết hợp với Tổng công ty Thép Việt Nam thực hiện "Kế hoạch nghiên cứu tổng thể phát triển ngành Thép Việt Nam" và hoàn thành vào tháng 3 năm 1998, giúp ngành thép có định hướng hợp lý hơn trong việc sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thép. Ngoài ra, còn có một số tài liệu khác dưới dạng các báo cáo chuyên đề như: "Báo cáo nghiên cứu thị trƣờng thép xây dựng tại Việt Nam" của Công ty tư vấn thiết kế và dịch vụ đầu tư (INFISCO), thuộc Bộ Công nghiệp; báo cáo kết quả phân tích, điều tra về ngành thép Việt Nam và những kiến nghị của Trường Đại học Kinh tế quốc dân; báo cáo của Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách công nghiệp về “Tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Thép Việt Nam”, 2004; đề tài cấp Tổng công ty do Tiến sĩ Phạm Thị Đào, nguyên Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Thép Việt Nam, làm chủ nhiệm về "Tổ chức hoạt động kinh doanh của Tổng công ty Thép Việt Nam giai đoạn 2002-2005" v. 4 Trong chừng mực nhất định, các văn kiện và công trình nói trên đã đề cập đến những cơ sở lý luận và thực tiễn của ngành thép Việt Nam ở một số khía cạnh và mức độ khác nhau, giúp chúng tôi có thể tham khảo những quan điểm, nhận thức chung về lý luận và nhiều số liệu cần thiết trong quá trình thực hiện luận văn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ