phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển ngành hàng cà phê trong bối cảnh các hiệp định thƣơng mại tự do thế hệ mới Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng phát triển ngành hàng cà phê trong bối cảnh các hiệp định thƣơng mại tự do thế hệ mới Chƣơng 4: Các giải pháp tiếp tục phát triển ngành hàng cà phê trong bối cảnh các hiệp định thƣơng mại tự do thế hệ mới 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH HÀNG CÀ PHÊ TRONG BỐI CẢNH HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về ngành hàng cà phê của Việt Nam Trong ba thập kỷ qua (tính từ công cuộc cải cách năm 1986), cà phê là một trong những đóng góp quan trọng nhất cho doanh thu của ngành nông nghiệp Việt Nam nói riêng và cho toàn bộ GDP quốc gia nói chung. Theo báo cáo của Bộ NN&PTNN (2018), ngành công nghiệp cà phê đã tạo ra hơn nửa triệu việc làm trực tiếp và gián tiếp, đồng thời là sinh kế chính của hàng ngàn hộ gia đình trong các khu vực sản xuất nông nghiệp.
Giá trị xuất khẩu cà phê thƣờng chiếm khoảng 15% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản và tỷ trọng cà phê luôn vƣợt trên 10% GDP nông nghiệp trong những năm gần đây. Cà phê Việt Nam phát triển rất nhanh.000 ha cà phê với sản lƣợng trên 6.000 tấn năm 1975, đến nay khoảng 500.000 ha với sản lƣợng trên 700. Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, nơi có khí hậu thích hợp cho cây cà phê phát triển và mang đến cho cà phê Việt Nam một hƣơng vị rất đặc biệt. Đặc biệt ở phía Nam cận xích đạo, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm rất thích hợp cho cây cà phê vối, tập trung ở Tây Nguyên, trong đó Đắc Lắc chiếm trên 50% sản lƣợng cả nƣớc.
Trong bày luận này này chủ yếu đề cập đến các loài cà phê xuất khẩu của Việt Nam là cà phê Arabica, Robusta. Trong các mặt hàng nông sản của Việt Nam, cà phê có vai trò khá quan trọng, hàng năm cà phê đem lại kim ngạch xuất khẩu trên 500 triệu đô la Mỹ, đứng thứ hai sau gạo (Viện Khoa học kỹ thuật nông, lâm nghiệp Tây Nguyên, 2018). Các thị trƣờng xuất khẩu chính của cà phê Việt Nam bao gồm: các nƣớc khối EU, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Anh. Năm 2021, xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt 1,52 triệu tấn, trị giá xấp xỉ 3 tỷ USD, tuy giảm 2,7% về lƣợng, nhƣng tăng 9,4% về trị giá so năm 5 2020.
Đáng chú ý, tháng 12/2021, giá cà phê xuất khẩu đạt mức cao nhất kể từ tháng 6/2017 (Nhung Thị Hồng Thăng, 2022). Tuy nhiên, để nâng cao kim ngạch xuất khẩu và đạt con số 6 tỷ USD vào năm 2030, yếu tố cốt lõi vẫn phải đẩy mạnh chế biến sâu. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác động của tham gia các hiệp định thương mại tự do đến lĩnh vực nông nghiệp và ngành hàng cà phê của việt Nam Về tác động của tham gia các hiệp định thƣơng mại tự do đến GDP thực tế: Xét về tác động của TPP đến tổng GDP cả nƣớc, JICA (2015) chỉ ra rằng tổng GDP của Việt Nam có thể tăng mạnh và Việt Nam sẽ là nƣớc đạt tỉ lệ phần trăm tăng GDP lớn nhất trong khối TPP sau khi tham gia TPP và AEC; trong khi đó, tác động của EVFTA có thể giúp tổng GDP Việt Nam tăng 7%-8% so với mức xu hƣớng tính đến năm 2025 (Mutrap, 2014). Xét riêng về ngành trồng trọt, báo cáo năm 2011 của Chu Tiến Quang và Hà Huy Ngọc đã đƣa ra những ví dụ cho rằng việc tăng trƣởng GDP trong nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng có thể không do tác động của việc giảm thuế quan từ hội nhập.
Cụ thể, GDP ngành trồng trọt tăng cao nhất 6,1% năm 2008 rồi giảm mạnh còn 0,9% vào năm 2009. Tuy nhiên, nhận định này có thể còn chƣa chính xác, bởi lẽ, năm 2008-2009 là thời điểm thị trƣờng thế giới gặp phải cuộc khủng hoảng tài chính, gây tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế nói chung và ngành nông nghiệp, trồng trọt nói riêng. Nhƣ vậy, có thể thấy, còn thiếu những nghiên cứu khẳng định tác động của việc hội nhập đến GDP thực tế của ngành trồng trọt của Việt Nam; mặc dù, trên thế giới, một số nghiên cứu ở các quốc gia khác đã chỉ ra mối liên hệ giữa hội nhập và việc tăng trƣởng GDP thực tế của quốc gia nói chung và ngành trồng trọt nói riêng. Một số ví dụ nhƣ: US – ITC (Hoa Kỳ) (2016) ƣớc lƣợng rằng tổng GDP thực tế của Mỹ sẽ tăng 42,7 tỷ USD, hoặc 0,15% vào năm 2032 nhờ TPP.
Về tác động của tham gia các hiệp định thƣơng mại tự do đến sản lƣợng/trị giá xuất nhập khẩu: Nghiên cứu đánh giá tác động của việc thực hiện thuế quan theo các cam kết WTO và khu vực đối với nông nghiệp và phát triển nông thôn sử dụng phƣơng pháp mô hình cân bằng tổng thể đa vùng GTAP và mô hình mô phỏng vi 6 mô của hộ gia đình Việt Nam, Elizabeth Petersen, et al. (2013) đã nêu lên một số tác động của các cam kết về thuế đối với thƣơng mại nông nghiệp. Nghiên cứu đã dự báo sự gia tăng trong xuất khẩu của nhóm rau quả và hạt tới Hàn Quốc, cũng có sự gia tăng đáng kể trong xuất khẩu gạo sang khu vực ASEAN theo AFTA khi hội nhập. Ở đây, mức tăng chủ yếu tới Indonesia và Philipin.
Một báo cáo của ISG, trực thuộc Bộ NN&PTNT vào năm 2002 đã bƣớc đầu đƣa ra ƣớc lƣợng tác động của FTA tới một số mặt hàng nông sản nhƣ lúa gạo, cà phê và chè, dựa trên mô hình cân bằng từng phần (PEM – Partial Equilibrium Model). Ví dụ, ISG dự đoán trong kịch bản 1 (mức thuế trên thị trƣờng thế giới giảm 50%, còn 10%) khối lƣợng xuất khẩu lúa gạo, cà phê, và chè có thể tăng khoảng 16,3%, 7,3% và 8,1%, theo thứ tự so với kịch bản cơ sở vào năm 2005; Tuy nhiên cũng đối với những năm trở lại đây thì chƣa có các số liệu làm rõ sự tăng trƣởng từ các FTA tới ngành hàng cà phê. Về tác động của tham gia các hiệp định thƣơng mại tự do đến thu nhập thực tế: Hiện nay, hầu hết các nghiên cứu đã đƣợc tìm hiểu, mới đƣa ra những ƣớc lƣợng cơ bản về mức thu nhập quốc dân. Bộ NNPTNT (2013) đã chỉ ra rằng việc cắt giảm thuế quan có thể làm tăng thu nhập quốc dân.
Trong hầu hết các kịch bản mà nghiên cứu đƣa ra để mô phỏng trong mô hình GTAP, tổng thu nhập quốc gia đều tăng, từ khoảng 2000 – 5000 triệu USD. Hay nhƣ nghiên cứu của Ủy ban thƣơng mại quốc tế Mỹ (US-ITC) cũng chỉ ra rằng mức thu nhập thực tế của Mỹ có thể tăng 57,3 tỷ USD, tƣơng đƣơng 0,23% vào năm 2032. Nhƣ vậy, tính đến nay, chƣa có nhiều ƣớc lƣợng về khả năng tăng hay giảm thu nhập thực tế quốc dân cho ngành trồng trọt Việt Nam nói chung và cho từng ngành lúa gạo, cà phê, xoài, mía đƣờng nói riêng. Về cơ hội lao động/biến động nguồn lao động: Mặc dù ở một số nghiên cứu trong nƣớc đã đề cập đến tác động của FTA có thể có tới cơ hội về việc làm hay sự chuyển đổi về cơ cấu nguồn lao động, các báo cáo vẫn chƣa đƣa ra số liệu chứng minh mà mới dừng ở việc đƣa ra những nhận xét định tính.
Hà Văn Hội (2015) dù đã nhận định rằng khi việc giảm thuế quan tạo ra triển vọng phát triển cho nhiều ngành hàng Việt Nam cũng kéo theo những lợi ích tới cơ hội việc làm cho ngƣời lao động trong lĩnh vực ngành hàng có lợi thế xuất khẩu đó, chƣa đƣa ra những số liệu chứng minh liên quan tới ngành nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói 7 riêng. Một ví dụ khác có đề cập đến sự tác động của FTA tới cơ cấu nguồn lao động giữa các ngành là báo cáo của MUTRAP (2014); trong đó, MUTRAP có đƣa ra nhận định rằng nếu năng suất thay đổi chậm thì để tăng sản lƣợng trong một số ngành hƣởng lợi xuất khẩu từ TPP nhƣ dệt may, da giày, cần có một sự chuyển dịch lao động từ các ngành hàng khác sang. Dù chƣa đƣa ra nhiều ví dụ chứng minh cho nhận định trên, liên quan trực tiếp tới ngành trồng trọt, MUTRAP, ngay sau đó, phủ nhận rằng kết luận trên có thể chƣa đƣợc chính xác khi phân tích chi tiết hơn. Tuy nhiên, trong một báo cáo mới đây của Ủy ban Thƣơng mại Quốc tế Mỹ (2016), thực hiện theo yêu cầu của Tổng thống Mỹ - Barack Obama, đã tóm tắt một số nội dung lý thuyết kinh tế về tác động của FTA tới thị trƣờng lao động.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc tự do hóa thƣơng mại có thể có những tác động phức tạp tới thị trƣờng lao động. FTA xóa bỏ các hàng rào thƣơng mại và đầu tƣ xuyên biên giới, tăng khả năng hội nhập giữa các quốc gia, những điều này có thể gây ra sự chuyển hƣớng sản xuất trong nội bộ từng quốc gia, dẫn đến sự chuyển hƣớng nhu cầu nguồn lao động giữa các ngành trong một nƣớc. Một số số liệu là kết quả chạy mô hình GTAP FTA cũng đƣợc đƣa ra: đến năm 2032, Ủy ban ƣớc lƣợng rằng TPP có thể giúp tăng 128.000 cơ hội việc làm cho Mỹ, đồng thời tăng tỉ lệ lƣơng thực tế thêm 0,19%. Về tác động của tham gia các hiệp định thƣơng mại tự do đến năng lực/vị thế cạnh tranh của ngành: Đối với vị thế cạnh tranh nói riêng trong ngành hàng nông nghiệp, Chu Tiến Quang và Hà Huy Ngọc (2013) đề cập đến vị thế xuất khẩu ngày càng tăng của Việt Nam, sau 4 năm thực hiện cam kết WTO, trong các sản phẩm Việt Nam có lợi thế nhƣ lúa gạo, tiêu, cà phê, cao su.
trên thị trƣờng thế giới. Giá xuất khẩu nông sản, một trong các lợi thế cạnh tranh của mặt hàng nông sản Việt Nam, đƣợc đánh giá là thấp hơn các sản phẩm cùng loại của các đối thủ cạnh tranh (Đào Thế Anh và Nguyễn Văn Sơn, 2013).