Mở đầu. Giới thiệu sơ lược về cơ sở hình thành, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu. Trình bày về các cơ sở lý thuyết được sử dụng đề tài sử dụng.
Chương 3: Ngành cà phê. Giới thiệu về ngành cà phê thế giới, ngành cà phê Việt Nam, những thách thức cũng như cơ hội đối với ngành này. Chương 4: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày về phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong đề tài.
Chương 5: Kết quả của nghiên cứu. Chương 6: Tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu, ý nghĩa, hạn chế của đề tài và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo. Trang 5 CHƯƠNG 2. Lý thuyết về chi phí giao dịch 2.
Giới thiệu Lý thuyết chi phí giao dịch (Transaction Cost Economics) của doanh nghiệp được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1937 và được tiếp tục phát triển cho đến nay. Mục đích của lý thuyết là giải thích lý do tại sao một số hoạt động được đưa vào trong nội bộ doanh nghiệp và tại sao một số hoạt động được để lại bên ngoài thị trường. Khi khu vực nông nghiệp hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu các quy định về bảo hộ mậu dịch, rào cản xâm nhập thị trường bị dỡ bỏ do đó chí phí giao dịch trở thành một công cụ quyết định khi xác định lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Lý thuyết chi phí giao dịch được xem là hữu ích trong phân tích chính sách nông nghiệp, đặc biệt liên quan đến phân tích thị trường nông sản ở các nước đang phát triển và sự thay đổi khu vực nông nghiệp nói chung.
Những giả định của Lý thuyết chi phí giao dịch: Lý thuyết chi phí giao dịch có 2 giả định chính: lý tính bị giới hạn và hành vi cơ hội (Williamson, 1981; Rindfleisch và Heide, 1997; Douma và Schreuder, 2008; Grover và Malhotra, 2003). Lý tính bị giới hạn (Bounded rationality) Lý thuyết này khẳng định rằng con người hoặc những người ra quyết định gặp khó khăn do khả năng nhận thức và bị giới hạn về tính hợp lý của họ. Người ra quyết định thường có ý định hành động hợp lý với những vấn đề sắp xảy ra, nhưng ý định này bị giới hạn bởi khả năng xử lý và truyền đạt thông tin của họ (Rindflesch và Heide, 1997). Hành vi cơ hội (Opportunism) Trong lý thuyết về chi phí giao dịch, sự tồn tại của hành vi cơ hội làm phát sinh chi phí giao dịch dưới hình thức các chi phí để giám sát hành vi, bảo vệ tài sản, và đảm bảo rằng bên kia không tham gia vào các hành vi cơ hội (Grover và Malhotra, 2003).
Nếu có cơ hội, các nhà hoạch định chính sách có thể sử dụng để phục vụ lợi ích riêng của của họ, và rất khó để biết người sắp giao dịch là đáng tin cậy hay không (Barney, 1990). Các khía cạnh của chi phí giao dịch Trong thị trường nông nghiệp nhiều giao dịch liên quan đến chi phí bởi vì người nông dân phải tìm kiếm người mua để trao đổi, kiểm tra người mua hàng để xác định độ tin cậy, mặc cả với người mua hàng để đạt được một thỏa thuận; giao sản phẩm, và giám sát các thỏa thuận để xem các điều kiện có được đáp ứng và thực thi hay không (Lu, Trienekens, Omta và Feng, năm 2008). Các chi phí này thay đổi phụ thuộc vào 3 khía cạnh: tần suất của các giao dịch, tính chuyên dụng của tài sản, và sự không chắc chắn của các giao dịch (Williamson, 1979). Tính chuyên dụng của tài sản (Asset Specificity) Việc đầu tư cao vào các tài sản chuyên dụng (còn gọi là đầu tư vào mối quan hệ cụ thể) yêu cầu các công ty phải phụ thuộc vào những mối quan hệ duy nhất và sẽ gây ra nhiều chi phí nếu thiết lập quan hệ với những nhà cung cấp khác (đầu tư và hệ thống Just in time, các nhân viên cho một đối tác nhất định, hoặc một vài thiết bị cho nhu cầu riêng của một nhà sản xuất) (Zaheer và Venkatraman, 1994; Mukhopadhyay và Kekre, năm 2002.
Tần số giao dịch (Frequency of Transaction) Khi mức độ yêu cầu của tài sản chuyên dụng là cao, giao dịch xem như là được thực hiện trong nội bộ chứ không phải là trên thị trường. Việc đưa ra một cơ cấu quản trị nội bộ đòi hỏi phải đầu tư vào tài sản cố định. Một cơ cấu quản lý cụ thể với khối lượng giao dịch thực hiện phải được xem xét. Các giao dịch có tần số cao thì dễ kiểm soát cấu trúc chi phí hơn (Douma và Schreuder, 2008).
Lập luận này cũng được hỗ trợ bởi Clemons, Reddi, và Row (1993). Các nghiên cứu của họ chỉ ra rằng, chi phí giao dịch trung bình giảm cùng với sự gia tăng tần số giao dịch. Sự không chắc chắn (Uncertainty) Sự không chắc chắn là việc không có khả năng dự đoán những sự kiện có thể xảy ra hoặc đề cập đến những thay đổi bất ngờ trong về mặt hoàn cảnh khi giao dịch (Williamson, 1979). Sự không chắc chắn này có thể ngăn cản cả việc xây dựng một hợp đồng lẫn khả năng kiểm tra sự tuân thủ những điều kiện đã ký kết (Grover và Malhotra, 2003).
Lý thuyết về chuỗi giá trị 2. Khái niệm chuỗi giá trị Ba dòng nghiên cứu chính trong lý thuyết về chuỗi giá trị bao gồm: cách tiếp cận filière (Duruflé, Fabre và cộng sự, 1988), khuôn khổ khái niệm được xây dựng bởi Porter (1985) và phương pháp tiếp cận toàn cầu được đề xuất bởi Kaplinsky (1999) và Gereffi (Gereffi, 1994; Gereffi và Korzeniewicz, 1994; Gereffi, 1999. Gereffi, Humphrey và cộng sự 2003). Filière Khái niệm về chuỗi đầu tiên được đề cập trong lý thuyết về cách tiếp cận chuỗi (Filière).
Phương pháp này gồm các trường phái tư duy và truyền thống nghiên cứu khác nhau.Cách tiếp cận Filière có 2 điểm chung với phân tích chuỗi giá trị: - Việc đánh giá chuỗi về mặt kinh tế và tài chính chú trọng vào vấn đề tạo thu nhập và phân phối trong chuỗi hàng hóa. Phân tích các chi phí và thu nhập theo hoạt động kinh doanh trong nước và quốc tế để xem xét ảnh hưởng của chuỗi đến nền kinh tế và đóng góp của nó vào GDP (Duruflé, Fabre và Yung, 1988) - Chú trọng vào chiến lược của chuỗi, nghiên cứu sự tác động lẫn nhau của mục tiêu, những ràng bụôc, và kết quả mỗi bên trong chuỗi nhận được. Khung phân tích của M.Porter Porter (1985) đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty nên định vị thế nào trên thị trường trong mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnh tranh khác. Porter cho rằng, lợi thế cạnh tranh không thể tìm ra nếu nhìn vào doanh nghiệp như một tổng thể.
Doanh nghiệp cần phân tích hoạt động của mình thành một loạt các hoạt động nhỏ hơn và tìm lợi thế cạnh tranh trong một hoặc nhiều các hoạt động đó. Chuỗi giá trị của doanh nghiệp bao gồm được chia thành 2 loại hoạt động cơ bản là hoạt động chính và hoạt động bổ trợ. Hoạt động chính trực tiếp góp phần tăng thêm giá trị cho sản xuất hàng hóa (dịch vụ). Hoạt động bổ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm.
Trang 8 Chuỗi giá trị bắt đầu từ các giá trị đầu vào và kết nối các giá trị của hoạt động khác cho đến khi chuyển toàn bộ giá trị, bao gồm cả giá trị gia tăng của doanh nghiệp sang khởi đầu chuỗi giá trị mới cho khách hàng. Chuỗi giá trị doanh nghiệp được mô tả theo hình sau. Nguồn: Porter (1985) Hình 2.1 Chuỗi giá trị doanh nghiệp Trong mô hình này, người ta phân tích chuỗi giá trị để tìm ra lợi thế cạnh tranh (thực tế và tiềm ẩn) của mình, nhằm hỗ trợ các quyết định chiến lược và quản lý điều hành doanh nghiệp. Phương pháp tiếp cận toàn cầu Chuỗi giá trị là tập hợp các hoạt động bao gồm sản phẩm (dịch vụ) từ khi mới chỉ là ý tưởng, trải qua các công đoạn sản xuất, phân phối đến người tiêu dùng và bị vứt bỏ sau khi sử dụng (Kaplinsky và Morris, 2001).
Trong quá trình toàn cầu hóa, khoảng cách trong thu nhập trong và giữa các nước tăng lên. Phân tích chuỗi giá trị có thể giúp giải thích quá trình này, nhất là trong viễn cảnh có nhiều thay đổi. Bằng cách lập sơ đồ một loạt những hoạt động trong chuỗi, một phân tích chuỗi giá trị phân tích tổng thu nhập của chuỗi giá trị thành những khoản mà các bên khác nhau trong chuỗi giá trị nhận được. Một phân tích chuỗi giá trị có thể làm sáng tỏ việc các công ty, vùng và quốc gia được kết nối với nền kinh tế toàn cầu như thế nào(Kaplinsky và Morris, 2001).
Có nhiều cách để diễn tả chuỗi giá trị, và tùy từng loại sản phẩm, dịch vụ, chuỗi giá trị có thể có cấu tạo và quy mô khác nhau. Tuy nhiên, ở dạng khái quát và Trang 9 đơn giản nhất, chuỗi giá trị gồm các khâu liên tiếp nhau, nghiên cứu và phát triển, thiết kế sản phẩm dịch vụ, sản xuất, marketing và bán hàng, phân phối, dịch vụ khách hàng. Moris (2001) đã lập sơ đồ một loạt các hoạt động trong chuỗi giá trị để phân tích và chỉ ra giá trị gia tăng được tạo ra trong các hoạt động như thế nào. Mô hình chuỗi giá trị gia tăng được mô tả như sau: Nguồn: Morris (2001) Hình 2.2 Giá trị gia tăng của chuỗi giá trị thông thường Trong mô hình trên, GTGT được tạo ra nhiều nhất ở khâu R&D và marketing, khâu thiết kế và phân phối có GTGT thấp hơn, khâu thấp nhất là sản xuất.
Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trải qua nhiều công đoạn, mỗi công đoạn góp phần tạo ra giá trị tăng thêm cho sản phẩm đó. Trong nghiên cứu của đề tài này tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận toàn cầu do đây là cách tiếp cận tương đối phù hợp để có cái nhìn toàn diện về chuỗi giá trị và đề ra các biến pháp nâng cấp chuỗi vì người nghèo.1 Tóm tắt về các khung phân tích chuỗi Chuỗi ngành Bộ ba kinh tế thế Cách tiếp cận Chuỗi ngành Chuỗi giá trị Chuỗi giá trị toàn hàng toàn cầu giới (những năm Filière (thập kỷ 60) hàng (1974) (thập kỷ 80) cầu (thập kỷ 90) 2000) Không có cách tiếp Lý thuyết hệ thống Không có nền tảng Lý thuyết hệ thống Lý thuyết hệ thống Chuỗi ngành hàng Nền cận thống nhất về mặt thế giới bắt nguồn lý thuyết thống thế giới.