Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN 1. Khái niệm Công nghiệp: Theo quan niệm của Liên hiệp quốc, công nghiệp được định nghĩa là tập hợp các hoạt động sản xuất với những đặc điểm nhất định thông qua các quá trình công nghệ để tạo sản phẩm. Hoạt động công nghiệp bao gồm cả ba loại hình: Công nghiệp khai thác tài nguyên, công nghiệp chế biến và các dịch vụ sản xuất theo sau nó [13, tr.
Công nghiệp, theo nghĩa rộng của kinh tế học là hoạt động kinh tế quy mô lớn, sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra trở thành hàng hóa. Như vậy công nghiệp nghĩa chung bao gồm cả dịch vụ. Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất – một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội. Công nghiệp bao gồm 3 hoạt động chủ yếu: Khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thủy; Chế biến các loại sản phẩm của công nghiệp khai thác và của nông, lâm, ngư nghiệp thành các loại sản phẩm khác nhau đáp ứng các nhu cầu khác nhau của xã hội; Hoạt động dịch vụ sửa chữa các sản phẩm công nghiệp nhằm khôi phục giá trị sử dụng của chúng.
Để thực hiện các hoạt động đó, dưới sự tác động của phân công lao động xã hội trên cơ sở phát triển khoa học công nghệ, trong nền kinh tế quốc dân hình thành hệ thống các ngành công nghiệp: khai thác, chế biến và dịch vụ sửa chữa [11, tr. Luan van 6 Công nghiệp chế biến: Là hoạt động sử dụng các tác động cơ học, lý học, hóa học và sinh học làm thay đổi hình thức, tính chất, kích thước của các loại nguyên liệu nguyên thủy để tạo ra các sản phẩm trung gian và tiếp tục chế biến tạo ra sản phẩm cuối cùng đưa vào sản xuất và sinh hoạt. Từ một loại nguyên liệu, hoạt động chế biến có thể tạo ra một loại sản phẩm hoặc nhiều loại sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau [11, tr. Phát triển công nghiệp chế biến: là làm gia tăng số lượng doanh nghiệp, nguồn nhân lực, nguồn vốn; đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ chế biến tiên tiến; gia tăng sản phẩm và đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Đặc điểm công nghiệp chế biến Khi xét theo công dụng của sản phẩm, ngành công nghiệp chế biến được chia thành ba nhóm ngành: công nghiệp sản xuất vật phẩm tiêu dùng; công nghiệp sản xuất đối tượng lao động; công nghiệp sản xuất công cụ lao động. Xét theo quá trình tác động vào đối tượng chế biến, công nghiệp chế biến dừa cũng giống như công nghiệp chế biến nông sản có thể chia thành 03 giai đoạn: - Nguyên liệu đầu vào: gồm các sản phẩm có nguồn gốc từ các bộ phận của cây dừa. - Sơ chế bảo quản: Giai đoạn này được tiến hành ngay sau khi thu hoạch, nằm ngoài nhà máy, cơ sở chế biến; chủ yếu sử dụng lao động thủ công với các phương tiện bảo quản, vận chuyển truyền thống, chuyên dùng. - Chế biến công nghiệp: Giai đoạn này diễn ra trong các cơ sở công nghiệp chế biến, sử dụng công nghệ, thiết bị, lao động kỹ thuật để chế biến ra sản phẩm.
Ở giai đoạn này trình độ công nghệ, thiết bị, tay nghề của công nhân có vai trò quyết định chất lượng của sản phẩm và mức độ tăng giá trị của sản phẩm. Luan van 7 Bảng 1. Hệ thống ngành kinh tế quốc dân D. CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN,CHẾ TẠO 10 Sản xuất thực phẩm 103 1030 Chế biến và bảo quản rau quả 10301 Chế biến và đóng họp rau quả 10309 Chế biến và bảo quản rau quả khác 104 1040 Sản xuất dầu, mỡ động, thực vật 10401 Sản xuất và đóng hộp dầu, mỡ động, thực vật.
10409 Chế biến và bảo quản dầu mỡ khác 11 Sản xuất đồ uống 110 Sản xuất đồ uống 1101 11010 Chưng, tinh cất và pha chế các loại rượu mạnh 1102 11020 Sản xuất rượu vang 1103 11030 Sản xuất bia và mạch nha ủ men bia 1104 Sản xuất đồ uống không cồn, nước khoáng 11041 Sản xuất nước khoáng, nước tinh khiết đóng chai 11042 Sản xuất đồ uống không cồn 16 Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất các sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện 161 1610 Cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ 16101 Cưa, xẻ và bào gỗ 16102 Bảo quản gỗ 162 Sản xuất các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa( trừ giường, tủ,bàn,ghế) sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và các vật liệu tết bện 1621 16210 Sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép và ván mỏng khác 1622 16220 Sản xuất đồ gỗ xây dựng 1623 16230 Sản xuất bao bì bằng gỗ 1629 Sản xuất các sản phẩm khác từ gỗ; sản xuất các sản phẩm từ tre, nứa, rơm, rạ và vật liệu tết bện 16291 Sản xuất sản phẩm khác từ gỗ 16292 Sản xuất sản phẩm từ lâm sản(trừ gỗ), cói và vật liệu tết đệm Luan van 8 Tại Việt Nam, theo đặc trưng công nghệ của ngành hay sản phẩm, công nghiệp được chia ra những phân ngành nhỏ để nghiên cứu. Theo cách phân loại truyền thống trước đây do Tổng cục Thống kê áp dụng, công nghiệp được phân chia thành 20 phân ngành cấp II để thống kê số liệu, phục vụ nghiên cứu. Hiện nay, hệ thống phân ngành kinh tế được áp dụng theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ thì có 21 ngành cấp I, 88 ngành cấp II, 242 ngành cấp III, 437 ngành cấp IV và 642 ngành cấp V. Theo hệ thống này, các phân ngành công nghiệp được mã hoá theo cấp 3 chữ số, 4 hoặc 5 chữ số ở mức độ chi tiết hơn, gồm bốn ngành lớn: công nghiệp khai khoáng; công nghiệp chế biến, chế tạo; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điện hóa không khí; cung cấp nước, hoạt động và xử lý nước thải và rác thải.
Cách phân loại này nhấn mạnh vào tầm quan trọng của từng lĩnh vực phát triển công nghiệp. Trong đó, khu vực công nghiệp chế biến bao gồm rất nhiều phân ngành công nghiệp khác nhau (xem Bảng 1. Dựa trên các phân ngành của công nghiệp chế biến, thì công nghiệp chế biến dừa là một phân ngành nhỏ của công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Tuy nhiên một số sản phẩm dừa chế biến là sản phẩm trung gian cung cấp cho ngành công nghiệp, nông nghiệp, y học.
So với công nghiệp chế biến nông, lâm sản, công nghiệp chế biến dừa có một số đặc điểm riêng sau: + Đặc điểm của cây dừa: Dừa là loại cây trồng nhiều ở vùng ven biển nhiệt đới, dễ phát triển trong điều kiện đất ngập mặn có độ ẩm và nhiệt độ cao, đặc biệt là không cần phải chăm sóc nhiều. Cây dừa thích nghi với lượng mưa từ 130 mm một tháng, với mùa khô dưới 50 mm một tháng; nhiệt độ trung bình cả năm từ 270C đến 28 0C, giờ nắng hàng năm không dưới 2000 giờ; độ ẩm hàng tháng không dưới Luan van 9 60%. Cây dừa nói chung rất thích nghi với nhiều loại đất, nhất là đất cát. Cây dừa là loại cây có một lá mầm điển hình.
Cây dừa không có rễ cái và cũng không có rễ nhánh to, nó có rất nhiều rễ nhỏ dài. Thân cây thon cao, không có cành, có đường kính từ 30 cm đến 40 cm, thông thường đạt độ cao từ 20 m đến 25 m. Lá dừa to dạng lông chim có chiều dài từ 4 m đến 7 m và rộng từ 1 m đến 1,5 m; mỗi tàu lá nặng từ 10 kg đến 15 kg. Quả dừa phát triển và đến khi chín khoảng một năm, gồm các thành phần: Vỏ (35%), gáo(12%), cơm dừa(28%), nước(25%).
Rất hiếm loại cây được sử dụng nhiều như cây dừa. Các tác giả cổ xưa đã dùng thơ hoặc văn xuôi kể ra 360 công dụng của cây dừa trong kinh tế gia đình [9, tr. Khác với các loại cây trồng khác, cây dừa là loại cây cho quả quanh năm, cho thu hoạch hàng tháng, ít ảnh hưởng bởi yếu tố thời vụ. Cây dừa có rất nhiều công dụng do tính đa dụng tự nhiên của nó, tất cả các thành phần của cây dừa từ thân, lá, rễ và các thành phần của quả dừa: xơ dừa, gáo dừa, cơm dừa, nước dừa đều có thể chế biến ra các sản phẩm phục vụ con người.
Đây là một lợi thế để đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định cho việc phát triển công nghiệp chế biến dừa. + Sản phẩm và thị trường: Sản phẩm dừa chế biến là nhóm mặt hàng tương đối đa dạng và phong phú bao gồm sản phẩm thực phẩm, phi thực phẩm phục vụ cho sinh hoạt của con người, phục vụ cho ngành công nghiệp, phục vụ cho ngành nông nghiệp, cho y học. Một số sản phẩm thực phẩm: - Cơm dừa khô (Copra): Cơm dừa của trái dừa khô được phơi nắng hoặc sấy khô còn 6-7% độ ẩm. - Dầu dừa thô: Dầu dừa được chiết ép từ cơm dừa khô.
Luan van 10 - Bánh dừa khô: Bánh dừa là phần bã dừa còn lại sau khi ép dầu dừa được dùng làm thức ăn gia súc. - Dầu dừa tinh khiết: Dầu dừa tinh khiết được chiết ép từ cơm dừa tươi, dùng làm mỹ phẩm, dược phẩm, thực phẩm cao cấp và dùng trong y học. - Cơm dừa nạo sấy: Cơm dừa nạo sấy là cơm dừa tươi được nghiền ra sấy khô và đóng gói, dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp bánh kẹo hoặc ăn trực tiếp để bổ sung chất béo. - Sữa dừa và bột sữa dừa: Sữa dừa và bột sữa dừa là dạng sữa được ép từ cơm dừa tươi, dùng để uống, chế biến các món ăn.
- Kem dừa: Kem dừa là nước cốt dừa đậm đặc hoặc cơm dừa, dùng chế biến kem. - Kẹo dừa: Kẹo dừa là sản phẩm của hỗn hợp cô đặc của đường, mạch nha và sữa dừa cô đặc. - Thạch dừa: là sản phẩm lên men nước dừa khô. - Đường dừa và rượu dừa: Đường dừa là sản phẩm cô đặc từ mật chiết từ hoa dừa.
Rượu dừa được cất từ mật hoa dừa lên men. - Mứt dừa: Mứt dừa là cơm dừa cứng cạy (10 tháng tuổi) trộn với đường và sên đến khi đường khô. - Nước dừa tươi đóng hộp: Nước dừa của giống dừa uống nước 8 tháng tuổi được xử lý vô trùng và đóng hộp. Ngoài các sản phẩm chủ yếu trên, người dân còn chế biến các sản phẩm truyền thống khác.
Sản phẩm dừa chế biến thuộc nhóm thực phẩm và đồ uống nên thời gian bảo quản, sử dụng có giới hạn nhất định.