CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN 1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THUỶ SẢN 1. Công nghiệp chế biến thủy sản a. Thủy sản Thuỷ sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường.
Hệ thống kinh tế thủy sản Hệ thống kinh tế thuỷ sản là tổng thể quan hệ sản xuất của ngành thủy sản; biểu hiện bằng những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu, những hình thức tổ chức sản xuất, phân phối, trao đổi trong các lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến sản phẩm thủy sản và cơ chế quản lý tương ứng của Nhà nước đối với ngành thủy sản. Công nghiệp chế biến thuỷ sản Công nghiệp chế biến thuỷ sản là công nghiệp làm thay đổi về chất nguyên liệu thuỷ sản thành nhiều loại sản phẩm khác nhau để thoả mãn nhu cầu đa dạng của xã hội, đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách, đặc biệt trong xuất khẩu. Chế biến thủy sản là công nghiệp chế biến quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Với một đất nước có nhiều sản lượng thủy sản đa dạng, nguồn nguyên liệu phong phú như nước ta, chế biến thủy sản tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng.
Phát triển công nghiệp chế biến thuỷ sản Phát triển công nghiệp chế biến thuỷ sản là quá trình nâng cao tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản trong toàn bộ các ngành kinh 10 tế của một địa phương, vùng hay một quốc gia. Để phát triển công nghiệp chế biến thuỷ sản, có 02 con đường đó là phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu. Phát triển công nghiệp chế biến thủy sản cần được nhìn nhận dưới góc độ phát triển hướng tới chất lượng và bền vững, trên cơ sở giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nâng cao giá trị gia tăng với đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, bảo vệ và phát triển nguồn lợi và an sinh xã hội; chủ động thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu; đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa phát triển công nghiệp chế biến thủy sản với góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia. Đặc điểm chủ yếu của công nghiệp chế biến thủy sản - Sản phẩm thủy sản sau chế biến có giá trị gia tăng nhờ vào chất lượng cao và phù hợp với thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng trong nước cũng như nước ngoài.
Sản phẩm chế biến đạt chất lượng cao phụ thuộc phần lớn vào giai đoạn bảo quản-ban đầu sau khi thu hoạch. Về mặt cơ học, thuỷ sản (tôm, cua, cá, nhuyễn thể…) phải không bị xây xát, nguyên con, tươi sống. Sau khi phân loại, thông thường được bảo quản bằng nước đá và đông lạnh. Có quy trình bảo quản đối với từng loại nguyên liệu.
Thủy sản thuộc loại dễ ôi thiu, đặc biệt nhanh hư hỏng khi nhiệt độ không khí tăng cao ở các xứ nhiệt đới như nước ta. Bảo quản đông lạnh luôn đi liền với chế biến thủy sản. Thuỷ sản nhanh hư hỏng chủ yếu là do các quá trình thủy phân và phân hủy protein do hệ vi sinh vật và hệ enzim nội tại gây ra. Quá trình này diễn ra càng nhanh khi nhiệt độ càng cao.
- Sản phẩm chế biến từ thủy sản rất đa dạng do sự đa dạng về nguyên liệu, đồng thời phải thỏa mãn nhu cầu rất khác nhau của người tiêu dùng. Thiết bị và quy trình công nghệ bảo quản, chế biến do vậy cũng rất đa dạng. 11 Mặt hàng chế biến thủy sản có từ cách ăn truyền thống cho đến hiện đại: tươi sống, khô,hun khói, muối đến đông lạnh, đồ hộp, phi lê hoặc shasimi. - Chất lượng sản phẩm thủy sản đòi hỏi càng ngày phải tăng cao do đó vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản phải được đảm bảo nghiêm ngặt.
Đây cũng là vấn đề cấp thiết đối với các doanh nghiệp xuất khẩu muốn giữ vững và mở rộng thị trường nước ngoài. -Công nghiệp chế biến thủy sản gắn liền với nhà máy, kho tàng, thiết bị,v. cần phải duy trì hoạt động trong mọi tình huống, đảm bảo sản xuất do đó cần có nguồn nguyên liệu ổn định, đồng thời cần gắn với quy hoạch ở tầm vĩ mô, phát triển các trung tâm chế biến thủy sản và vùng nguyên liệu tập trung phù hợp giữa miền Bắc, miền Trung và miền Nam - Công nghiệp chế biến thủy sản liên quan trực tiếp đến ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nước và mùi độc hại. Nước thải chế biến thủy sản là nước thải hữu cơ có chứa dầu (mỡ) và đạm động vật gây thối nhanh nên cơ bản phải xử lý bằng phương pháp sinh học là phù hợp.
Mặt khác, khi nguyên liệu không được bảo quản tốt hoặc các nội tạng loại bỏ không được thu dọn cẩn thận se bốc mùi ô nhiễm. Bởi vậy các doanh nghiệp chế biến thủy sản cần có quy trình xử lý chất gây ô nhiễm môi trường, coi đó là một yêu cầu bắt buộc trong sản xuất của doanh nghiệp. -Công nghiệp chế biến thủy sản ở nước ta bao gồm công nghiệp chế biến sản phẩm thủy sản sơ chế như đông lạnh, phơi khô và ướp muối và công nghệ chế biến sản phẩm thủy sản có giá trị gia tăng. Công nghệ chế biến sản phẩm thủy sản sơ chế là công nghệ chế biến đơn giản có mục đích bảo vệ sản phẩm thủy sản để bán nguyên liệu cho tái chế.
Công nghệ chế biến sản phẩm thủy sản có giá trị gia tăng là công nghệ chế biến tiên tiến, có kỹ thuật cao, tạo ra nhiều sản phẩm giá trị gia tăng trong chế biến. Vai trò của công nghiệp chế biến thuỷ sản a. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Với tốc độ phát triển về sản lượng và giá trị xuất khẩu. Ngành công nghiệp chế biển thủy sản ngày càng được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Các cơ sở sản xuất không ngừng được gia tăng, đầu tư, đổi mới. Đây cũng là lĩnh vực phát triển rất nhanh và đã tiếp cận với trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến của khu vực và thế giới trong một số lĩnh vực chế biến thuỷ sản. Nguồn xuất khẩu quan trọng Xuất khẩu thuỷ sản năm 2014 đạt 7,9 tỷ USD, tăng 17,6% so với năm 2013, chiếm 5,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản thông qua chế biến ngày càng tăng, phục vụ đắc lực cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu.
Sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã có mặt và đứng vững trên 160 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những thị trường quan trọng như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Nga. Cung cấp thực phẩm, tạo nguồn dinh dưỡng cho mọi người dân Việt Nam Công nghiệp chế biến thuỷ sản góp phần chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của người dân Việt Nam, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào. Trong thời gian tới, các mặt hàng chế biến thủy sản sẽ ngày càng có vị trí cao trong tiêu thụ thực phẩm của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam. Đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm Công nghiệp chế biến thuỷ sản là một trong những ngành cung cấp lương thực, thực phẩm trực tiếp.
Ở tầm vĩ mô, dưới giác độ ngành kinh tế quốc dân, công nghiệp chế biến thuỷ sản đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn, tránh việc phụ thuộc vào việc nhập khẩu từ nước ngoài 13 e. Xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm cho người lao động: Sự phát triển của công nghiệp chế biến thuỷ sản đã kéo theo sự phát triển của nuôi trồng thuỷ sản và khai thác thuỷ sản, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN 1. Phát triển quy mô công nghiệp chế biến thuỷ sản a.
Gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp chế biến thuỷ sản - Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến thuỷ sản là chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản tạo ra trong một thời gian nhất định. Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến thủy sản được tính theo giá cố định và giá hiện hành. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp chế biến thủy sản được tính bằng giá cố định.Gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp chế biến thuỷ sản thể hiện sự phát triển của ngành. (VA/GO)=(GO-IC)/GO Trong đó VA: giá trị tăng thêm GO: Giá trị sản xuất IC: Chi phí trung gian - Tốc độ tăng trưởng liên hoàn: thể hiện sự biến đổi của đối tượng nghiên cứu giữa 2 giai đoạn liên tiếp (hoặc 2 năm liên tiếp) và được tính theo công thức: Yi Yi 1 yi 100% Yi 1 Trong đó: yi: tốc độ phát triển giá trị sản xuất công nghiệp chế biến thuỷ sản Yi: giá trị sản xuất công nghiệp chế biến thuỷ sản giai đoạn i 14 Yi-1: giá trị sản xuất công nghiệp chế biến thuỷ sản giai đoạn i-1 - Tốc độ tăng trưởng bình quân: chỉ tiêu này phản ánh mức độ phát triển trung bình trong cả giai đoạn nghiện cứu.
Yt yn 100% 100% Y1 Trong đó: y tốc độ phát triển bình quân Yt: giá trị sản xuất công nghiệp chế biến thuỷ sản của năm cuối của giai đoạn nghiên cứu Y1: giá trị sản xuất công nghiệp chế biến thuỷ sản năm gốc N: số năm trong giai đoạn nghiên cứu ( không tính năm gốc) b. Phát triển số lượng các doanh nghiệp chế biến Phát triển về số lượng cơ sở sản xuất là một trong những tiêu chí quan trọng để nghiên cứu, đánh giá sự phát triển của một ngành công nghiệp. Phát triển công nghiệp phải có sự tăng trưởng, nghĩa là sự gia tăng về số lượng cơ sở sản xuất cũng như tốc động tăng trưởng của các cơ sở ngày càng tăng. Số lượng doanh nghiệp tham gia vào công nghiệp chế biến thuỷ sản chứng tỏ sức hấp dẫn của ngành, thu hút được các doanh nghiệp mới tham gia vào hoạt động chế biến thuỷ sản.
Khi đánh giá, không chỉ dựa trên số liệu đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến mà phải được xem xét dựa trên hoạt động kinh doanh thực tế của các doanh nghiệp đó trên thị trường.