CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Để đánh giá tổng quát những nghiên cứu về PTNL ứng dụng CNTT cho SV SPLS trường ĐHSPHN2, chúng tôi khảo cứu dựa trên 2 hướng chủ yếu: Nghiên cứu về NL ứng dụng CNTT của GV và SVSP; Nghiên cứu về NL ứng dụng CNTT của GV và SV SPLS. Những nghiên cứu về NL ứng dụng CNTT của giáo viên và sinh viên SP 1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài • Giáo trình, sách chuyên khảo, tham khảo Trong cuốn Information and communication technologies in teacher education – a planning guide (CNTT và truyền thông trong đào tạo GV – kế hoạch hướng dẫn, UNESCO, 2002), các nhà khoa học GD đã giới thiệu những yêu cầu về NL ứng dụng CNTT của một số CTĐT GV trên thế giới. Cụ thể như CT do Viện GD quốc gia Singapore (NIE), tiêu chuẩn Công nghệ GD Quốc gia (NETS) của Hoa Kỳ, các bộ tiêu chuẩn được học hỏi và điều chỉnh từ các nền GD trên thế giới (Anh, Autralia, các nước khu vực Mỹ Latinh…).
Qua đó, UNESCO hướng tới nhận định tầm quan trọng việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn về NL ứng dụng CNTT cho GV. UNESCO cho rằng: “Bước đầu tiên trong việc xác định nội dung, PP giảng dạy hướng tới PTNL CNTT và truyền thông cho SV SP là GiV phải xác định được những hạn chế của SV so với hệ thống tiêu chuẩn” [160;58]. Nghiên cứu khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng khung NL ứng dụng CNTT cho SVSP. Tác giả Yin Cheaong Cheng đã công bố những kết quả nghiên cứu về CNTT trong đào tạo GV thông qua cuốn sách ICT in Teacher Education - Challenging Prospects (CNTT và truyền thông trong đào tạo GV – Triển vọng và thách thức, Sweden 2005).
Ở chương thứ 3 – Three waves of teacher education and development (Ba làn sóng đào tạo GV và PT), Yin Cheong Cheng đã mô tả sự PT của CNTT trong đào tạo GV đang nổi lên theo ba làn sóng, nếu làn sóng thứ nhất và thứ hai nổi lên do nhu cầu tự 8 cải thiện bài giảng của GV và yếu tố cạnh tranh giữa các trường học để đạt được những chỉ tiêu đề ra, thì làn sóng thứ ba hướng đến việc đáp ứng các yêu cầu cơ bản của những mô hình GD mới, tiên tiến hơn, hướng vào PT cá nhân của người học [177;41,44,49]. Kết quả nghiên cứu đã củng cố nhận định: để trở thành người GV thực hiện vai trò hỗ trợ PT HS, SVSP phải có khả năng ứng dụng CNTT trong quá trình thực hiện các thao tác SP. Cuốn Teachers learning with digital technologies: A review of research and projects (Việc học tập của GV với công nghệ kỹ thuật số: Đánh giá các nghiên cứu và dự án, Bristol: Futurelab, 2006) của nhóm tác giả T. Higgins, Avril Loveless đã chỉ ra rằng, quá trình PTNL ứng dụng CNTT và truyền thông cho GV: “tạo điều kiện cho sự thay đổi văn hóa trong nghề nghiệp.
để PT thành chuyên gia phản xạ có khả năng hành động thông minh trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng” [106;39]. Cuốn sách đã xác định được vai trò của việc PTNL ứng dụng CNTT đối với việc hình thành thái độ, phẩm chất đúng đắn, tạo nên văn hóa nghề nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động chuyên môn của GV. Trong UNESCO ICT Competency, Framework for Teachers (Khung NL ICT dành cho GV, UNESCO, 2008), khung NL được Tổ chức GD, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc xây dựng dựa trên sáu thành phần: chính sách, CT DH và đánh giá, PP DH, sử dụng công nghệ, tổ chức và quản lý trường học và PT chuyên môn GV. UNESCO đã tạo ra một khung Tiêu chuẩn NL ICT của GV với 24 tiêu chí.
Năm 2011, UNESCO sửa đổi và đề xuất Khung NL ICT dành cho GV (phiên bản năm 2011) với 18 tiêu chí cụ thể. Khung NL này tiếp tục được điều chỉnh, sửa đổi và công bố phiên bản thứ ba vào năm 2018, nhấn mạnh rằng GV ngoài việc có NL ICT, còn phải có khả năng sử dụng CNTT để giúp HS trở thành những người học có kĩ năng hợp tác, giải quyết vấn đề, sáng tạo và gắn bó với xã hội. Những kết luận của UNESCO là cơ sở quan trọng để luận án xây dựng hệ thống khung NL ứng dụng CNTT cho SV SPLS, hướng tới đáp ứng yêu cầu về NL ICT của người GV nói chung. Trong chương 11 của cuốn Open Educational Resources and Change in Higher Education: Reflections from Practice (Tài nguyên GD mở và thay đổi trong GD ĐH: Phản ánh từ thực tiễn, UNESCO & Commonwealth of Learning, Vancouver, 2012), 9 John Arul Phillips đã gợi ý sử dụng tài nguyên mở dạng website trong GD ĐH.
Qua đó nhận định, việc sử dụng website trong giảng dạy sẽ giúp SV nâng cao khả năng sử dụng CNTT. Đây là gợi ý hữu ích cho tác giả trong quá trình thiết kế học liệu giảng dạy, hướng đến PTNL ứng dụng CNTT cho SV SPLS trong quá trình học tập và NCKH. Trong cuốn Case Studies on Integrating ICT into Teacher Education Curriculum in Asia (Nghiên cứu điển hình về tích hợp CNTT vào CT giảng dạy đào tạo GV ở Châu Á, UNESCO, 2013), các nhà khoa học đã khái quát, phân tích những đặc điểm của CT PTNL ứng dụng CNTT và truyền thông trong đào tạo SVSP ở một số cơ sở GD trên thế giới như: ĐH Cowan (Australia), ĐH SP Quốc gia Hàn Quốc, ĐH Nam Trung Hoa, ĐH Quốc gia Mindanao – Viện công nghệ Iligan (Philippines), Trường ĐH Rajabhat Mahasarakham (Thái Lan), ĐH SP Hà Nội (Việt Nam). Theo đó, các cơ sở đào tạo GV đã có sự thay đổi ở những mức độ khác nhau trong CT và PP giảng dạy để thích ứng với sự PT mạnh mẽ của CNTT.
Thông qua một số biện pháp như: cung cấp các khóa học về ứng dụng CNTT độc lập, kết hợp hướng dẫn trong các nội dung môn học, tăng cường yếu tố thực hành, xây dựng các dự án, mô – đun học tập, nâng cao dần yêu cầu về ICT qua từng năm học trong quá trình đào tạo, sử dụng PPDH vi mô để đánh giá hiệu quả và điều chỉnh,… Các trường hợp điển hình được giới thiệu trong nghiên cứu là mô hình tham khảo cho việc tìm hiểu, xây dựng và PT CTĐT cử nhân SPLS, cũng như gợi mở cho tác giả đề xuất một số biện pháp nâng cao NL ứng dụng CNTT cho SVSP nói chung và SV SPLS nói riêng. Năm 2017, Ủy ban châu Âu đã công bố European Framework for the Digital Competence of Educators DigCompEdu (Khung NL kĩ thuật số trong GD của Châu Âu) là công trình nghiên cứu giá trị, đưa ra hệ thống khung NL kĩ thuật số trong GV, với sự giải thích và minh họa chi tiết. Ba mảng NL kĩ thuật số: NL của người học, NL SP của GV và NL chuyên nghiệp của nhà GD, khung NL chia thành 6 thành phần gồm 22 tiêu chí NL cụ thể. Đây là cơ sở lí thuyết quan trọng để chúng tôi tham khảo, xây dựng khung NL ứng dụng CNTT đặc thù cho GV bộ môn và SV chuyên ngành với những tiêu chí, biểu hiện phù hợp.
Được coi là một cuốn sách phải đọc cho những ai quan tâm đến tương lai của GD, DH trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư của Armand Doucet, Jelmer Evers, 10 Elisa Guerra, Nadia Lopez, Michael Soskil và Koen Timmers (Trần Ninh Bình dịch, NXB Trẻ, 2020) đã tiếp cận GD toàn cầu trong bối cảnh chuyển đổi mạnh mẽ của công nghệ. Đặc biệt ở chương 7: Sự tiến bộ của công nghệ trong lớp học, Koen Timmers đã khẳng định: “Công nghệ là một chất xúc tác cho SP…Nếu muốn giúp HS sẵn sàng đáp ứng những thách thức tương lai trong một thế giới thay đổi nhanh chóng, GV phải được chuẩn bị để sử dụng công nghệ thật tốt” [22;196]. Quan điểm này cho thấy sự cần thiết phải nâng cao NL ứng dụng CNTT cho GV.D và cộng sự cũng mô tả sự PT mạnh mẽ của CNTT, nổi bật như trong lĩnh vực AI, vừa là cơ hội nhưng cũng vừa “một bờ vực thẳng đứng” đối với GV. Trong cách mạng công nghiệp 4.0, GV phải dùng “sự phán đoán chuyên nghiệp của mình để tìm ra công cụ SP tốt nhất, phù hợp nhất cho từng tình huống riêng biệt” [22;226].
Nhận định này khẳng định tầm quan trọng của NL ứng dụng CNTT mà GV nói chung và GV môn LS nói riêng cần có, đó là lựa chọn được công cụ công nghệ hỗ trợ phù hợp cho từng bối cảnh GD cụ thể. • Bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học Ngoài những công trình sách chuyên khảo, tham khảo, một số nhà khoa học trên thế giới đã có những kết quả nghiên cứu đáng chú ý được đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học. Bài báo 信息技术环境下教师角色与能力结构分析 (Vai trò GV dưới bối cảnh CNTT và phân tích NL GV), đăng trên Tạp chí ĐH SP Phúc Kiến (NXB Triết Xã, Trung Quốc, 6/2003), tác giả Huang Yuxing (黄宇星) cho rằng NL của GV trong môi trường công nghệ, gồm 9 loại NL: NL thiết kế DH hệ thống hóa, NL thực hiện DH, NL hợp tác DH, NL thúc đẩy sự PT của người học, NL giám sát DH, NL đánh giá DH, NL tích hợp CNTT và CT DH, NL nghiên cứu DH, và NL học tập suốt đời. Nghiên cứu này có giá trị tham khảo đối với luận án khi xác định những NL ứng dụng CNTT cần hình thành cho SVSPLS – những GVLS trong tương lai.
Nhóm tác giả Gu Xiao Qing (顾小清), Zhu Zhiting (祝智庭), Bang Yanxia ( 庞艳霞) với bài báo 教师的信息化专业发展:现状与问题 (Hiện trạng và vấn đề PT chuyên môn ứng dụng CNTT của GV) đăng trên tạp chí Nghiên cứu GD Điện Hóa (Trung 11 Quốc, 1/2004) cho rằng, NL ứng dụng CNTT trong DH bao gồm: NL thông tin cơ bản, thiết kế bài dạy ứng dụng CNTT, nhận thức khái niệm ứng dụng CNTT, đạo đức nghề nghiệp, thái độ và khả năng triển khai DH ứng dụng CNTT. So với quan điểm của Huang Yuxing được nhắc đến ở trên, Gu Xiao Qing và cộng sự có bổ sung, mở rộng về nội dung NL ứng dụng CNTT của GV, đó là xác định thêm yếu tố về phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, thái độ đúng đắn của GV với việc ứng dụng CNTT trong DH. Đây là nghiên cứu quan trọng gợi mở cho chúng tôi trong quá trình xây dựng hệ thống NL ứng dụng CNTT, cần đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức, kĩ năng và thái độ tích cực để khai thác CNTT hiệu quả.