Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử (mã số: 9.11) của tác giả Đặng Thị Thùy Dung, hoàn thành năm 2024 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hoàng Hải Hà và PGS.TS Nguyễn Thị Thế Bình, mang tên: “Phát triển năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho sinh viên Sư phạm Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2”.
Tính cấp thiết của đề tài được luận án xác định dựa trên bối cảnh chuyển đổi số giáo dục mạnh mẽ từ đầu thế kỷ XXI, cùng yêu cầu triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và Nghị quyết số 29-NQ/TW (năm 2013). Các văn bản quản lý nhà nước như Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông (Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT) đặt ra tiêu chí bắt buộc về việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), khai thác trang thiết bị công nghệ trong dạy học và giáo dục. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: phần lớn các trường đại học sư phạm và khoa sư phạm hiện nay mới chỉ quan tâm đến khả năng ứng dụng CNTT của sinh viên trong thực hành giáo dục hoặc dạy học môn học, trong khi hoạt động ứng dụng CNTT phục vụ tự học và nghiên cứu khoa học (NCKH) còn hạn chế; sinh viên chưa khai thác hiệu quả các tính năng công nghệ để nâng cao chuyên môn lịch sử. Riêng tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các công trình trước đây chỉ tiếp cận kỹ năng CNTT như điều kiện phụ trợ cho một phương pháp cụ thể, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, xây dựng khung năng lực và hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ các thành tố và tiêu chí đánh giá năng lực ứng dụng CNTT, từ đó đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm khả thi nhằm phát triển năng lực này trong học tập, thực hành giáo dục và NCKH cho sinh viên Sư phạm Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 nói riêng và các cơ sở đào tạo giáo viên lịch sử nói chung.
Giả thuyết khoa học của luận án khẳng định: Năng lực ứng dụng CNTT của sinh viên Sư phạm Lịch sử có vai trò quan trọng trong học tập, NCKH và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm; việc phát triển năng lực này sẽ nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên Sư phạm Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 nếu xác định được nội dung, tiêu chí đánh giá phù hợp và đề xuất được các biện pháp sư phạm khả thi.
Để hiện thực hóa mục đích và chứng minh giả thuyết, luận án đặt ra 6 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về giáo dục, giáo dục lịch sử và năng lực ứng dụng CNTT.
- Tìm hiểu, phân tích chương trình đào tạo cử nhân Sư phạm Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 về chuẩn đầu ra và các học phần liên quan.
- Khảo sát, điều tra thực tiễn hoạt động học tập, thực hành giáo dục và NCKH của sinh viên Sư phạm Lịch sử tại một số trường đại học sư phạm trên cả nước.
- Đề xuất khung năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên Sư phạm Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
- Đề xuất các biện pháp sư phạm phát triển năng lực ứng dụng CNTT cho đối tượng nghiên cứu.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình phát triển năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên Sư phạm Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 nói riêng và các trường sư phạm nói chung, tập trung vào hệ thống biện pháp sư phạm.
- Phạm vi nội dung: Các vấn đề lý luận dạy học bộ môn về năng lực và dạy học phát triển năng lực; phát triển năng lực ứng dụng CNTT qua ba hoạt động (học tập, thực hành giáo dục, NCKH) trong các học phần thuộc khối kiến thức nghiệp vụ và chuyên ngành cử nhân Sư phạm Lịch sử.
- Phạm vi không gian và thời gian: Khảo sát thực trạng tại một số trường đại học sư phạm đào tạo ngành Sư phạm Lịch sử ở Việt Nam; thực nghiệm sư phạm từng phần và toàn phần tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (trọng tâm trên sinh viên khóa K47 giai đoạn 2021-2024).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai trục nội dung lớn:
Hướng thứ nhất: Nghiên cứu về năng lực ứng dụng CNTT của giáo viên và sinh viên sư phạm nói chung:
- Tài liệu quốc tế: Báo cáo của UNESCO (2002) về CNTT trong đào tạo giáo viên tại Singapore (NIE), Hoa Kỳ (NETS), Anh, Australia; công trình của Yin Cheong Cheng (2005) về ba làn sóng đào tạo giáo viên; T. Higgins và Avril Loveless (2006) về văn hóa nghề nghiệp số; bộ chuẩn năng lực UNESCO ICT-CFT qua các phiên bản năm 2008 (6 thành phần, 24 tiêu chí), 2011 (18 tiêu chí) và 2018 (phiên bản thứ ba); John Arul Phillips (2012) về tài nguyên giáo dục mở dạng website; UNESCO (2013) về nghiên cứu điển hình tích hợp ICT tại châu Á (Đại học Cowan, Đại học Sư phạm Quốc gia Hàn Quốc, Đại học Sư phạm Hà Nội...); Khung năng lực kỹ thuật số châu Âu DigCompEdu (2017) với 6 thành phần và 22 tiêu chí; Armand Doucet, Koen Timmers và cộng sự (2020) về giáo dục trong Cách mạng công nghiệp 4.0 và trí tuệ nhân tạo (AI). Cùng với đó là các bài báo học thuật của Huang Yuxing (2003) phân tích cấu trúc 9 năng lực công nghệ của giáo viên; Gu Xiao Qing, Zhu Zhiting, Bang Yanxia (2004) bổ sung khía cạnh đạo đức nghề nghiệp và thái độ; Jung Insung (2005) về tích hợp công nghệ - sư phạm; R. Kay (2006) tổng thuật chiến lược tích hợp ICT; Marjolein Drent và Martina Meelissen (2008) về rào cản và động lực ứng dụng ICT tại Hà Lan; Robyn Philip và Jennifer Nicholls (2009) về blog nhóm; Steve Wheeler và Dawn Wheeler (2009) về wiki giáo dục; Jef Peeraer và Peter Van Petegem (2011) về thực trạng kỹ năng ICT của giáo viên tại Việt Nam; Wang Wenjun và Wang Weiqun (2012) về 6 năng lực dạy học ICT; H. Ayub và Wong S. Luan (2015); Oloyede OJO và Emmanuel O. Adu (2018) về trang thiết bị và kỹ năng tại Nam Phi.
- Tài liệu Việt Nam: Tài liệu bồi dưỡng ứng dụng CNTT của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013); Báo cáo đề tài của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2013) mô tả sơ đồ hoạt động ứng dụng ICT của giáo viên; giáo trình của Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn (2016) về môi trường sư phạm tương tác; Hoàng Thị Hạnh (2016) về kỹ năng thực tập sư phạm; Bùi Minh Đức (2017) về 9 năng lực nghề giáo viên; các bài báo của Vũ Đức Thông (2016) đề xuất 3 mức độ năng lực ICT (làm quen, hiểu sâu, sáng tạo); Thái Hoài Minh và Trịnh Văn Biều (2016) với quy trình 7 bước xây dựng khung năng lực ICT cho sinh viên Sư phạm Hóa học; Nguyễn Thế Dũng và Ngô Tứ Thành (2017) áp dụng cho sinh viên Sư phạm Tin học; Lê Thị Kim Loan (2017); Trần Trung, Nguyễn Chí Thành, Ngô Văn Định (2020) về phần mềm Mendeley trong NCKH; Trần Bích Ngân và cộng sự (2020) về dạy học trực tuyến; Ngô Văn Định (2022) về khung năng lực ICT trong NCKH giáo dục gồm 6 năng lực và 22 chỉ báo; Trần Thị Thu Hương và Nguyễn Khắc Quỳnh (2022) tổng hợp công cụ đo lường năng lực số.
Hướng thứ hai: Nghiên cứu về năng lực ứng dụng CNTT của giáo viên và sinh viên Sư phạm Lịch sử:
- Tài liệu quốc tế: Nghiên cứu so sánh của Hội đồng Châu Âu (2000) về đào tạo giáo viên lịch sử tại 13 quốc gia; Viện CNTT Giáo dục của UNESCO (2005) khảo sát tại Đông Nam Âu; Toni Weller (2012) với cuốn History in the Digital Age; Kevin Kee và cộng sự (2014) với Pastplay: Teaching and Learning History with Technology giới thiệu Google Earth, thực tế ảo (VR), Wikipedia; T. Mills Kelly (2018) với Teaching History in the Digital Age; bài báo của Peter Hillis và Bob Munro (2005) về mạng lưới trường học lịch sử ảo; John Allison (2008) về công nghệ thực tế ảo trong giáo dục lịch sử; Ibrahim Hakki Öztürk (2012) về mô hình TPACK và Wikipedia; Adesote S.R và cộng sự (2013); Mohd F. Seman và cộng sự (2017) tại Malaysia; Alois Ecker (2018) về truyền thông và lịch sử tại châu Âu; Yitzhak Cytrin (2018) tại Israel; Aidah Edin và cộng sự (2019); Maria Elisabetta Porcedda (2021) về ứng dụng Powtoon, Wakelet, Quizziz trong bối cảnh Covid-19; Carlos D. Ciriza-Mendívil và cộng sự (2022) về mô hình TPACK cho giáo viên lịch sử mới vào nghề.
- Tài liệu Việt Nam: Giáo trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử của Nguyễn Thị Côi, Đoàn Văn Hưng, Nguyễn Mạnh Hưởng (2009); Giáo trình Phương pháp dạy học Lịch sử của Phan Ngọc Liên, Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng (2012) xác định quy trình 4 bước thiết kế bài giảng điện tử; Vũ Quang Hiển và Hoàng Thanh Tú (2014) về phương tiện trực quan; Nguyễn Đức Cường (2014) với nguyên tắc "3Đ" (đúng lúc, đúng chỗ, đúng độ); Nguyễn Thị Thế Bình và nhóm tác giả (2020) về khai thác học liệu số và không gian học tập kết hợp (FreeCam, Movie Maker, iSpring Suite, Gnomio, Zoom); tài liệu bồi dưỡng giáo viên cốt cán chương trình ETEP của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) cho môn Lịch sử THPT và môn Lịch sử - Địa lí THCS; các công trình của Nguyễn Thị Thế Bình và Nguyễn Thị Phương Thanh (2016); Nguyễn Đức Toàn (2018) về WebQuest; Nguyễn M. Bích (2021); Nguyễn Mạnh Hưởng (2021) về hình ảnh lịch sử; Hoàng Thanh Tú và Ninh Thị Hạnh (2017) về mô hình lớp học đảo ngược tại ĐHSP Hà Nội 2 ghi nhận 92,1% sinh viên cải thiện kỹ năng CNTT; Đặng Thị Thùy Dung và Nguyễn Thị Thế Bình (2021) về thực tế ảo; Chu Ngọc Quỳnh, Nguyễn Thùy Linh, Đặng Thị Thùy Dung (2021) về Google Sites môn Lịch sử Việt Nam hiện đại; Nguyễn Mạnh Hưởng và Lê Thị Thúy An (2021) về TPACK; cùng các luận án tiến sĩ của Đoàn Văn Hưng (2009), Nguyễn Mạnh Hưởng (2011), Ninh Thị Hạnh (2019), Chu Ngọc Quỳnh (2022), Lê Thị Thúy An (2022).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây tập trung phần lớn vào hoạt động dạy học của giáo viên hoặc rèn luyện kỹ năng đứng lớp của sinh viên. Luận án đi sâu giải quyết cấu trúc năng lực ứng dụng CNTT của sinh viên Sư phạm Lịch sử bao quát cả ba trụ cột: học tập chuyên ngành lịch sử, NCKH lịch sử/giáo dục lịch sử và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm; đồng thời thiết kế bộ công cụ đánh giá theo mức độ chuẩn đầu ra và đề xuất hệ thống biện pháp thực thi gắn với đặc thù đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Hệ thống lý thuyết và khái niệm công cụ:
- Khái niệm năng lực được tiếp cận tổng hợp từ quan điểm của OECD, UNESCO (2015), Từ điển Oxford, Từ điển Greenwood, Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 của Việt Nam, cùng quan điểm của Denyse Tremblay, F.E. Weinert, Nghiêm Đình Vỳ, Nguyễn Công Khanh, Trần Khánh Đức. Luận án xác định năng lực là sự huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ và phẩm chất để giải quyết hiệu quả nhiệm vụ trong bối cảnh cụ thể.
- Năng lực được phân tách thành năng lực chung và năng lực đặc thù; áp dụng lý thuyết đường phát triển năng lực của Robert Glaser.
- Khung năng lực công nghệ thông tin và truyền thông dành cho giáo viên (ICT-CFT phiên bản thứ ba năm 2018 của UNESCO).
- Mô hình kiến thức sư phạm nội dung công nghệ (TPACK - Technological Pedagogical Content Knowledge).
- Bộ Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông theo Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên khảo, tạp chí khoa học trong và ngoài nước; phân tích văn bản quy phạm pháp luật, chuẩn đầu ra, chương trình đào tạo và đề cương chi tiết các học phần cử nhân Sư phạm Lịch sử tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (học phần Ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, Lịch sử Việt Nam hiện đại...).
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra, khảo sát bằng bảng hỏi anket đối với giảng viên và sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử tại một số trường đại học sư phạm.
- Phương pháp quan sát sư phạm, dự giờ các tiết học chuyên ngành và nghiệp vụ.
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn sâu, xin ý kiến đánh giá từ các nhà khoa học, giảng viên lý luận dạy học lịch sử để thẩm định khung năng lực và thang đo.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm từng phần (thiết kế nhóm song hành K47TP_1, K47TP_2) và thực nghiệm toàn phần có đối chứng trên sinh viên Khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu khảo sát và thực nghiệm; kiểm định độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha của 9 tiêu chuẩn năng lực; kiểm định T-Test để so sánh giá trị trung bình trước và sau thực nghiệm, giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
Nguồn dữ liệu của luận án: Hồ sơ chương trình đào tạo cử nhân Sư phạm Lịch sử; dữ liệu khảo sát bảng hỏi từ giảng viên và sinh viên sư phạm lịch sử; phiếu tự đánh giá và bài kiểm tra năng lực của 40 sinh viên lớp thực nghiệm K47 Sư phạm Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học theo hai tuyến nội dung: năng lực ứng dụng CNTT của giáo viên/sinh viên sư phạm nói chung và năng lực ứng dụng CNTT của giáo viên/sinh viên Sư phạm Lịch sử nói riêng. Tác giả tổng thuật các khung chuẩn quốc tế như UNESCO ICT-CFT, DigCompEdu, các mô hình TPACK và các nghiên cứu thực tiễn tại châu Âu, Bắc Mỹ, châu Á và Việt Nam.
Chương 1 chỉ ra sơ đồ mô tả hoạt động ứng dụng ICT của giáo viên do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam công bố (2013), bao gồm: thiết kế trình chiếu nội dung dạy học; sử dụng ICT trong các tình huống dạy học và cải tiến phương pháp; sử dụng ICT trong đánh giá hiệu quả học tập; quản lý quá trình học; sử dụng ICT trong sinh hoạt chuyên môn nghiệp vụ và tự học suốt đời. Trên cơ sở đó, tác giả xác lập 5 khoảng trống nghiên cứu mà luận án trực tiếp giải quyết, đặc biệt nhấn mạnh việc kết nối CNTT với hoạt động tự học và NCKH của sinh viên ngành lịch sử.
CHƯƠNG 2: Vấn đề phát triển năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên Sư phạm Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2: Lí luận và thực tiễn
Chương 2 làm rõ bản chất lý luận về năng lực ứng dụng CNTT của sinh viên Sư phạm Lịch sử, đường phát triển năng lực của Robert Glaser, và phân tích các yếu tố tác động (nhận thức cá nhân, thái độ, động cơ, cơ sở vật chất, năng lực của giảng viên). Luận án phân tích cấu trúc chương trình đào tạo cử nhân Sư phạm Lịch sử tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, làm rõ chuẩn đầu ra và nội dung học phần "Ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông".
Về mặt thực tiễn, tác giả trình bày kết quả khảo sát tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và một số cơ sở đào tạo giáo viên lịch sử. Các bảng số liệu trong chương phản ánh thực trạng:
- Thống kê mẫu khảo sát giảng viên và sinh viên về nhận thức và mức độ sử dụng các phần mềm, thiết bị.
- Đánh giá của giảng viên về khả năng ứng dụng CNTT của sinh viên: phần lớn sinh viên chỉ dừng ở mức độ cơ bản (soạn thảo văn bản, trình chiếu PowerPoint đơn giản), lúng túng khi xử lý các phần mềm biên tập video, số hóa học liệu, xây dựng website học tập hay dùng công cụ quản lý trích dẫn trong NCKH.
- Đánh giá thuận lợi và khó khăn của giảng viên: khó khăn lớn nhất nằm ở quỹ thời gian thực hành trên lớp hạn hẹp, trang thiết bị đồng bộ chưa cao và sinh viên còn thiếu tính chủ động tự học.
CHƯƠNG 3: Khung năng lực và bộ công cụ đánh giá mức độ phát triển năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên Sư phạm Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Chương 3 đề xuất quy trình xây dựng khung năng lực gồm các bước logic dựa trên chuẩn UNESCO ICT-CFT, Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT và chuẩn đầu ra của Nhà trường. Độ tin cậy của khung năng lực được chứng minh thông qua hệ số Cronbach’s Alpha đối với 9 tiêu chuẩn năng lực.
Nội dung khung năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên Sư phạm Lịch sử được cấu trúc theo các thành tố rõ rệt:
- Năng lực ứng dụng CNTT trong học tập các học phần chuyên ngành lịch sử (tìm kiếm, xác thực sử liệu số, thiết kế học liệu tự học).
- Năng lực ứng dụng CNTT trong rèn luyện nghiệp vụ sư phạm và dạy học lịch sử (thiết kế kế hoạch bài dạy số, giáo án điện tử, bài giảng tương tác, khai thác tranh ảnh, video, bản đồ lịch sử, ứng dụng công nghệ thực tế ảo VR, AI, mô hình lớp học đảo ngược).
- Năng lực ứng dụng CNTT trong nghiên cứu khoa học giáo dục lịch sử và khoa học lịch sử (thu thập tài liệu số, quản lý trích dẫn tài liệu tham khảo, thiết kế phiếu khảo sát trực tuyến, phân tích dữ liệu, viết báo cáo).
Song song với khung năng lực, tác giả xây dựng bộ công cụ đánh giá bao gồm:
- Bảng tiêu chí đánh giá mức độ phát triển năng lực ứng dụng CNTT theo rubric (mô tả hành vi chi tiết theo các cấp độ tăng dần).
- Phiếu tự đánh giá năng lực dành cho sinh viên.
- Đề cương gợi ý nội dung, tình huống đánh giá cho bài kiểm tra năng lực ứng dụng CNTT trong thực hành sư phạm lịch sử.
CHƯƠNG 4: Các biện pháp phát triển năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên Sư phạm Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Thực nghiệm sư phạm
Chương 4 đề xuất 3 nhóm biện pháp sư phạm đồng bộ và mô tả tiến trình thực nghiệm sư phạm:
Hệ thống biện pháp sư phạm:
- Nhóm 1: Nhóm biện pháp nâng cao thái độ và kiến thức về CNTT:
- Biện pháp 1.1: Định hướng mục tiêu, tạo hứng thú và rèn ý chí cho sinh viên trong quá trình ứng dụng CNTT (thông qua tổ chức các buổi seminar chuyên đề như "Sử dụng công nghệ Thực tế ảo (VR) trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông" trên Google Meet).
- Biện pháp 1.2: Hướng dẫn sinh viên khai thác hiệu quả tài liệu số “Sổ tay ứng dụng CNTT cho sinh viên Sư phạm Lịch sử” (tài liệu do tác giả biên soạn, cung cấp hệ thống học liệu qua mã QR và chỉ dẫn thao tác công cụ).
- Nhóm 2: Nhóm biện pháp rèn luyện kĩ năng về CNTT:
- Biện pháp 2.1: Tổ chức dạy học kết hợp các học phần thuộc chương trình đào tạo theo mô hình lớp học đảo ngược (áp dụng thực tế vào nội dung "Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám năm 1945").
- Biện pháp 2.2: Tổ chức hoạt động sinh hoạt về ứng dụng CNTT thông qua mô hình Câu lạc bộ Nghiệp vụ sư phạm (CLB NVSP), hướng dẫn tạo sản phẩm AI, thiết kế đồ dùng trực quan, vẽ truyện tranh lịch sử hỗ trợ dạy học.
- Biện pháp 2.3: Tập huấn trực tuyến về kỹ năng ứng dụng CNTT trong NCKH (hướng dẫn sử dụng phần mềm quản lý trích dẫn tài liệu tham khảo Mendeley, thiết kế phiếu khảo sát trực tuyến).
- Nhóm 3: Nhóm biện pháp tăng cường khả năng vận dụng CNTT:
- Biện pháp 3.1: Hướng dẫn sinh viên ứng dụng CNTT trong tự học và trao đổi chuyên môn (thiết kế tài liệu số, xây dựng website học liệu chuyên đề Lịch sử Việt Nam hiện đại qua Google Sites, nhóm chia sẻ học tập trên mạng xã hội Facebook).
- Biện pháp 3.2: Hướng dẫn sinh viên ứng dụng CNTT trong quá trình thực hành và thực tập sư phạm (thiết kế kế hoạch bài dạy số hóa, thiết kế đồ dùng dạy học).
- Biện pháp 3.3: Hướng dẫn sinh viên thực hiện hiệu quả hoạt động NCKH các đề tài về ứng dụng CNTT (hướng dẫn làm sản phẩm sách lật điện tử, website hướng dẫn tự học lịch sử).
Thực nghiệm sư phạm và kết quả xử lý dữ liệu:
Tác giả tổ chức thực nghiệm từng phần (nhóm K47TP_1 và K47TP_2) và thực nghiệm toàn phần (so sánh nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng). Bảng kiểm định T-Test và thống kê điểm trước - sau thực nghiệm trên 40 sinh viên lớp K47 Sư phạm Lịch sử thể hiện rõ sự chuyển biến:
| Công cụ đo lường |
Giai đoạn đánh giá |
Điểm trung bình / Mức độ đạt được |
Nhận xét thống kê |
| Phiếu tự đánh giá năng lực (n = 40 SV) |
Trước thực nghiệm |
Phần lớn sinh viên tự nhận ở mức 1 (Cơ bản) và mức 2 |
Điểm tự đánh giá tăng rõ rệt ở cả 9 tiêu chuẩn sau can thiệp |
| Phiếu tự đánh giá năng lực (n = 40 SV) |
Sau thực nghiệm |
Tỷ lệ sinh viên đạt mức 3 (Thành thạo) và mức 4 (Vận dụng sáng tạo) tăng cao |
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) |
| Bài kiểm tra năng lực ứng dụng CNTT |
Trước thực nghiệm |
Điểm số tập trung ở nhóm trung bình - khá |
Phân phối điểm có sự tương đồng giữa hai nhóm TN và ĐC |
| Bài kiểm tra năng lực ứng dụng CNTT |
Sau thực nghiệm |
Nhóm thực nghiệm đạt điểm giỏi và xuất sắc cao hơn nhóm đối chứng |
Kiểm định T-Test xác nhận sự khác biệt mang ý nghĩa khoa học |
Dữ liệu thực nghiệm chứng minh các biện pháp sư phạm đề xuất có tính khả thi, giúp sinh viên cải thiện cả về nhận thức, thái độ, kỹ năng công nghệ và khả năng sáng tạo sản phẩm học liệu lịch sử.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về năng lực, phát triển năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử trong bối cảnh thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và chuyển đổi số giáo dục đại học.
- Xây dựng được khung năng lực ứng dụng CNTT đặc thù dành riêng cho sinh viên Sư phạm Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 gồm các tiêu chuẩn, tiêu chí hành vi rõ ràng, bao quát cả ba mặt hoạt động: học tập, NCKH và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
Về mặt thực tiễn:
- Khảo sát, cung cấp bức tranh thực trạng về năng lực ứng dụng CNTT của sinh viên và giảng viên Sư phạm Lịch sử tại một số cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam.
- Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực ứng dụng CNTT (bảng rubric tiêu chí, phiếu tự đánh giá, bài kiểm tra tình huống) có độ tin cậy được kiểm chứng qua hệ số Cronbach’s Alpha và ý kiến chuyên gia.
- Đề xuất hệ thống 3 nhóm biện pháp sư phạm khả thi, đồng thời xây dựng các sản phẩm thực tiễn có khả năng chuyển giao: "Sổ tay ứng dụng CNTT cho sinh viên Sư phạm Lịch sử", quy trình dạy học kết hợp theo mô hình lớp học đảo ngược, quy trình seminar thực tế ảo (VR), tập huấn trích dẫn khoa học và mô hình sinh hoạt CLB Nghiệp vụ sư phạm.
- Kết quả thực nghiệm sư phạm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp trong việc nâng cao điểm số và chất lượng sản phẩm công nghệ của sinh viên.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
- Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển hạ tầng số tại các trường đại học sư phạm; định kỳ tổ chức các lớp tập huấn cập nhật công nghệ giáo dục mới cho giảng viên các khoa sư phạm bộ môn.
- Đối với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và Khoa Lịch sử: Rà soát, cập nhật chương trình đào tạo cử nhân Sư phạm Lịch sử, tăng cường thời lượng rèn luyện thực hành ứng dụng CNTT trong các học phần nghiệp vụ và chuyên ngành; đầu tư phòng thực hành bộ môn có trang thiết bị công nghệ hiện đại; hỗ trợ kinh phí cho mô hình Câu lạc bộ Nghiệp vụ sư phạm và phong trào NCKH ứng dụng công nghệ của sinh viên.
- Đối với giảng viên và sinh viên: Giảng viên cần chủ động đổi mới phương pháp, tăng cường giao nhiệm vụ tự học qua nền tảng số; sinh viên cần nâng cao ý thức tự học, tự rèn luyện kỹ năng công nghệ, tích cực tham gia NCKH và khai thác công nghệ đúng nguyên tắc sư phạm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi thực nghiệm sư phạm trực tiếp mới chỉ tiến hành trên đối tượng sinh viên Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (trọng tâm là khóa K47 với quy mô lớp thực nghiệm 40 sinh viên), chưa triển khai thực nghiệm mở rộng đồng loạt tại các trường đại học sư phạm khác.
- Việc áp dụng một số công nghệ cao (thực tế ảo VR, trí tuệ nhân tạo AI) còn phụ thuộc lớn vào điều kiện cơ sở vật chất, đường truyền Internet và thiết bị cá nhân của người học.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi thử nghiệm, thực nghiệm sư phạm hệ thống biện pháp tại các khoa đào tạo giáo viên lịch sử ở các trường đại học sư phạm trên phạm vi toàn quốc.
- Tiếp tục nghiên cứu tích hợp sâu các công nghệ mới nổi (trí tuệ nhân tạo tạo sinh, thực tế tăng cường AR) vào quy trình thiết kế bài dạy lịch sử và số hóa nguồn tư liệu lịch sử địa phương.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên bộ môn Lí luận và Phương pháp dạy học Lịch sử tại các trường đại học sư phạm: Tham khảo quy trình tổ chức dạy học kết hợp, mô hình lớp học đảo ngược trong bài học lịch sử, cách thiết kế bài tập thực hành nghiệp vụ và tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ chuyên môn.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học: Tham khảo phương pháp luận thiết kế khung năng lực đặc thù môn học, quy trình chuẩn hóa thang đo Rubric, kỹ thuật xử lý số liệu thực nghiệm sư phạm bằng T-Test và kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha.
- Sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử và giáo viên môn Lịch sử tại các trường THCS, THPT: Sử dụng trực tiếp "Sổ tay ứng dụng CNTT cho sinh viên Sư phạm Lịch sử", tham khảo các quy trình số hóa học liệu bằng Google Sites, tạo sản phẩm sách lật điện tử, truyện tranh lịch sử, bài giảng tương tác và phương pháp trích dẫn tài liệu NCKH bằng Mendeley.
- Cán bộ quản lý đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học: Cung cấp căn cứ thực tiễn để rà soát, điều chỉnh chuẩn đầu ra chương trình đào tạo giáo viên đáp ứng Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xây dựng Khung năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên Sư phạm Lịch sử dựa trên những căn cứ nào?
Khung năng lực được xây dựng dựa trên sự tích hợp của: Khung năng lực ICT dành cho giáo viên của UNESCO (phiên bản thứ ba năm 2018); Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông theo Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT; Chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo cử nhân Sư phạm Lịch sử của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; cùng đặc thù nội dung tri thức khoa học lịch sử và phương pháp dạy học bộ môn. Độ tin cậy của 9 tiêu chuẩn năng lực trong khung được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha.
2. Hệ thống biện pháp sư phạm trong luận án gồm những nhóm nào?
Luận án đề xuất 3 nhóm biện pháp chính:
- Nhóm nâng cao thái độ và kiến thức về CNTT: Định hướng mục tiêu, tạo hứng thú, rèn ý chí thông qua seminar chuyên đề (như seminar về công nghệ Thực tế ảo VR) và khai thác tài liệu số "Sổ tay ứng dụng CNTT cho sinh viên Sư phạm Lịch sử".
- Nhóm rèn luyện kĩ năng về CNTT: Tổ chức dạy học kết hợp theo mô hình lớp học đảo ngược, tổ chức sinh hoạt chuyên đề qua Câu lạc bộ Nghiệp vụ sư phạm (ứng dụng AI, làm truyện tranh, đồ dùng trực quan), tập huấn trực tuyến kỹ năng NCKH (sử dụng Mendeley, thiết kế phiếu khảo sát trực tuyến).
- Nhóm tăng cường khả năng vận dụng CNTT: Hướng dẫn tự học và trao đổi chuyên môn (Google Sites, mạng xã hội), hướng dẫn ứng dụng trong thực hành/thực tập sư phạm và hướng dẫn thực hiện đề tài NCKH (làm sách lật số, website học tập).
3. Sinh viên trong nghiên cứu đã tạo ra những sản phẩm ứng dụng công nghệ cụ thể nào?
Trong quá trình thực nghiệm, sinh viên lớp K47 Sư phạm Lịch sử đã thiết kế và sử dụng các sản phẩm: giáo án điện tử và phiếu khảo sát trực tuyến; đồ dùng trực quan hỗ trợ dạy học; truyện tranh lịch sử số hóa; website học liệu chuyên đề Lịch sử Việt Nam hiện đại trên nền tảng Google Sites; tài liệu số dạng sách lật; sản phẩm AI hỗ trợ dạy học; và bài viết nội san sinh viên NCKH có chuẩn hóa danh mục tài liệu tham khảo qua công cụ trích dẫn.
4. Nguyên tắc "3Đ" mà luận án kế thừa khi ứng dụng CNTT vào dạy học lịch sử là gì?
Đó là nguyên tắc: "Đúng lúc, đúng chỗ, đúng độ" được kế thừa từ nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hưởng (2011) và Nguyễn Đức Cường (2014). Nguyên tắc này đòi hỏi việc đưa phương tiện, hình ảnh, video hay ứng dụng công nghệ vào bài học lịch sử phải xuất phát từ mục tiêu sư phạm, không lạm dụng trình chiếu quá mức làm lu mờ kiến thức trọng tâm hoặc biến giờ học lịch sử thành buổi trình diễn công nghệ.
5. Kết quả thực nghiệm sư phạm được kiểm định bằng phương pháp thống kê nào?
Tác giả sử dụng phương pháp thống kê toán học, xử lý số liệu thu được từ phiếu tự đánh giá và bài kiểm tra năng lực của 40 sinh viên lớp thực nghiệm K47 Sư phạm Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; thực hiện so sánh đối chứng giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng; tiến hành kiểm định T-Test và tính toán hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha cho các tiêu chuẩn năng lực, chứng minh mức độ tiến bộ có ý nghĩa thống kê với $p < 0,05$.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đặng Thị Thùy Dung đã giải quyết đồng bộ vấn đề phát triển năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên Sư phạm Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 từ cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn đến thực nghiệm sư phạm. Công trình xác lập thành công khung năng lực đặc thù cùng bộ công cụ đo lường rubric có độ tin cậy khoa học cao, bao quát cả ba hoạt động: học tập chuyên ngành, NCKH và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. Hệ thống 3 nhóm biện pháp sư phạm kết hợp giữa mô hình lớp học đảo ngược, câu lạc bộ nghiệp vụ và sổ tay hướng dẫn số hóa đã mang lại hiệu quả rõ rệt qua số liệu thực nghiệm kiểm định T-Test. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và ứng dụng thực tiễn cao cho công tác đào tạo giáo viên lịch sử đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.