CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA TÀI LIỆU ĐIỆN TỬ 1.1 Năng lực tự học 1.1 Khái niệm tự học TH có ý nghĩa quan trọng trong GD và cuộc sống. Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về TH. Theo Từ điển Giáo dục học: “TH là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thí nghiệm. Nhà giáo dục Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng : “TH là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”.
Theo Malcolm Shepherd Knowles: “TH là một quá trình tự thân thực hiện các hoạt động học tập mà người học có thể cần hoặc không cần hỗ trợ. Người học phải xác định được động cơ, mục tiêu học tập, thu thập thông tin từ nguồn tài liệu, biết thực hiện kế hoạch học tập và đánh giá được kết quả”. Từ các quan điểm tự học của một số tác giả trong và ngoài nước, ta thấy rằng: “TH là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo của chính bản thân người học. Trong quá trình đó, người học là chủ thể của quá trình nhận thức, huy động các chức năng tâm lí, tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu đề ra”.2 Khái niệm năng lực Năng lực là một phạm trù từng đựợc bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội, có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực.
Theo Từ điển tiếng Việt: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh 4 lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Từ điển tâm lý học cho rằng: “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”. Trong các giáo trình tâm lý học, đa số đều quan niệm rằng, năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt.
Theo Chương trình GDPT tổng thể của Bộ GD&ĐT: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Như vậy, năng lực được hiểu là khả năng huy động của cá nhân nhờ quá trình tổng hợp các kiến thức, các kỹ năng, thái độ và vận dụng chúng một cách triệt để, nhằm hoàn thành nhanh chóng công việc, hoạt động nào đó một cách hiệu quả.3 Khái niệm năng lực tự học Theo Nguyễn Cảnh Toàn, quan niệm về NLTH được nói như sau: “NLTH được hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp. Nó bao gồm kỹ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra.
NLTH là sự bao hàm của cả cách học, kỹ năng học và nội dung học: “NLTH là sự tích hợp tổng thể cách học và kỹ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống – vấn đề khác nhau”. NLTH là những thuộc tính tâm lí nhằm giải quyết được các vấn đề đặt ra một cách hiệu quả nhất, biến kiến thức của nhân loại thành kiến thức sở hữu của riêng mình. Theo nghiên cứu của Philip Candy, NLTH bị chi phối bởi 2 yếu tố: Tính cách và phương pháp học. Tính kỷ luật, tư duy phân tích, khả năng tự điều chỉnh, ham hiểu biết, linh hoạt, có năng lực giao tiếp xã hội,… thuộc nhóm tính cách.
Có kỹ năng tìm kiếm, thu hồi thông tin, có kiến thức để thực hiện các hoạt động học tập, năng lực đánh giá, giải quyết vấn đề và xử lý thông tin thuộc về phương pháp học. 5 Bên cạnh đó, nghiên cứu của Taylor chỉ ra rằng: Người có NLTH cần phải có 3 yếu tố chính về thái độ, tính cách và kỹ năng. Cụ thể, thái độ chịu trách nhiệm với việc học, đối mặt thách thức, mong muốn thay đổi, được học; Tính cách chủ động trong học tập, độc lập, kỉ luật, tự tin,.; Kỹ năng như quản lý thời gian, lập kế hoạch, lắng nghe, ghi chép.4 Các năng lực thành tố của năng lực tự học - Năng lực xây dựng kế hoạch tự học: Khi xác định được mục tiêu, nội dung và phương pháp học thì mọi việc sẽ diễn ra suôn sẻ. Do đó, phải xây dựng kế hoạch học tập hiệu quả.
- Năng lực nhận biết và phát hiện vấn đề: Năng lực này đòi hỏi phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp và so sánh sự vật hiện tượng tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ trên cơ sở lí luận và hiểu biết của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, làm sáng rõ… - Năng lực giải quyết vấn đề: Bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định và lập kế hoạch giải quyết; khảo sát các khía cạnh, tiếp nhận và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận. - Năng lực làm việc nhóm: Hoạt động dựa vào tính độc lập, tích cực của các thành viên. Với mục tiêu sao cho mọi thành viên quan tâm tới kết quả chung của toàn nhóm. Phải có sự phân công rõ ràng, trách nhiệm được xác định cụ thể; Mỗi thành viên phải trực tiếp tham gia các hoạt động, chủ động tìm kiếm, thu thập và xử lí thông tin để giải quyết các nhiệm vụ.
Đồng thời, trong quá trình hoạt động nhóm các thành viên phải giúp đỡ, động viên lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ chung. - Năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn: Vận dụng tri thức vào thực tiễn vừa là mục đích tự thân của việc học, vừa là quá trình bổ sung, mở rộng, đào sâu, làm giàu tri thức cá nhân. - Năng lực tự kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh: Khi tự kiểm tra, đánh giá thì người học biết được trình độ TH của mình đạt đến mức độ nào. Từ đó, đề ra biện pháp điều chỉnh phương pháp TH để đạt hiệu quả cao hơn.
Việc kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên trong quá trình TH bằng nhiều hình thức khác nhau.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học - Động cơ và hứng thú học tập: Đây là yếu tố quan trọng để thúc đẩy HS TH và hình thành NLTH. 6 - Vốn kiến thức: Là cơ sở để HS TH hiệu quả, nếu kiến thức chưa đủ thì quá trình TH sẽ diễn ra một cách khó khăn khiến HS chán nản, bỏ cuộc. - Phương pháp tự học: HS không có phương pháp TH hiệu quả dẫn đến kết quả TH không tốt. - Phương pháp dạy học: Phần lớn thời gian học tập của HS diễn ra trên lớp, thế nên GV cần có các phương pháp giảng dạy hiệu quả và khuyến khích HS TH.
Điều này giúp HS giảm áp lực và nâng cao được NLTH, góp phần duy trì NLTH một cách bền vững. - Phương tiện và tài liệu học tập: Tùy điều kiện của HS mà ảnh hưởng của nó sẽ khác nhau đến hiệu quả TH.6 Đánh giá năng lực tự học 1.1 Phương pháp đánh giá năng lực tự học - Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của HS: Đây là phương pháp đánh giá mà GV là người đánh giá, xem xét kỹ lưỡng sản phẩm của HS và nhận định nó đạt đến mức năng lực nào. Việc nghiên cứu sản phẩm của HS giúp GV có thêm thông tin về năng lực của HS hàm chứa trong kiến thức, kỹ năng,. Từ đó, GV phân tích các thông tin trên, đối chiếu với tiêu chí đánh giá và tiến hành cho điểm.
- Phương pháp đặt câu hỏi: Là phương pháp GV đặt câu hỏi cho HS, HS đặt câu hỏi cho GV hoặc bạn học khác trong quá trình học tập nhằm rút ra kết luận, kiến thức mới mà HS cần lĩnh hội hoặc củng cố, tổng kết, mở rộng kiến thức đã học. GV dựa vào câu trả lời, câu hỏi, cách đặt câu hỏi của HS để tìm hiểu, thu thập thông tin để đánh giá mức độ hiểu bài, mức độ đạt của năng lực cần đo. - Phương pháp quan sát: Là phương pháp được ưa chuộng nhất, có thể tiến hành trong lớp và ngoài lớp. Phương pháp này đề cập việc theo dõi hoặc lắng nghe HS thực hiện các hoạt động hoặc nhận xét một sản phẩm của HS.
GV quan sát HS là một hành động diễn ra tự nhiên và xuyên suốt. Khi quan sát HS, GV phải chú tâm theo dõi nhằm thu thập thông tin một cách đầy đủ, không bỏ sót các thông tin quan trọng. Sau đó sàng lọc những thông tin cần thiết cho việc đánh giá năng lực phù hợp với các tiêu chí đưa ra. - Phương pháp tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng: Tự đánh giá: Là quá trình HS tự đánh giá quá trình học tập, các hoạt động học tập, kết quả học tập của bản thân.
Tự đánh giá có thể giúp HS thể hiện rõ cách 7 mà các em muốn học. Cung cấp thông tin phản hồi có ý nghĩa cho GV về nhu cầu học tập của HS. Tự đánh giá giúp khắc sâu những gì đã học, những tiến bộ, điều cần cố gắng, biết chịu trách nhiệm trước kết quả học tập của mình, tự tin với những điều mình có thể làm được và bồi dưỡng NLTH cho các em. Đánh giá đồng đẳng: Là quá trình HS đánh giá sản phẩm, công việc của bạn học, nhằm cung cấp thông tin phản hồi để cùng học hỏi và hỗ trợ lẫn nhau.
HS phải nắm rõ nội dung, tiêu chí về sản phẩm mà mình đánh giá. HS quan sát bạn học trong học tập nên thông tin thu được về nhau rất chi tiết, cụ thể hơn GV. Các tiêu chí đánh giá tốt nhất nên được xác định, thống nhất giữa GV và HS.2 Tiêu chí đánh giá năng lực tự học Bảng 1.1 Rubrics đánh giá năng lực của HS NL Chỉ số hành vi Mức Biểu hiện Điểm thành tố độ 1.