CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VA THỰC TIEN CUA VIỆC XÂY DỰNG TINH HUONG THUC TE NHÂM PHÁT TRIEN NANG LUC TU DUY CHO HỌC SINH 1.1 Tổng quan van đề nghiên cứu 1.1 Những nghiên cứu trên thế giới PPDHTH la một PPDH tích cực, trong đó GV đưa ra một tinh huống có vấn dé cho HS giải quyết. Tình huồng này có thé là một tình huồng thực tế, một tình huống giả định hoặc một câu đó, câu hỏi mang tính thử thách cho người học. Sự hình thành của phương pháp tình huống bắt nguồn từ nhu cầu cần đổi mới PPDH truyền thống, vốn chủ yếu dựa trên thuyết giảng, thụ động. Phương pháp tình hudng ra đời nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, giúp HS tiếp thu kiến thức một cách sâu sắc và bền vững.
Phương pháp tình huéng đã được xuất hiện trong giáo dục một thời gian dai, việc sử đụng các tình huống dan trở thành phương pháp sư phạm chính trong việc giảng day với đa dạng các cấp học. các ngành đào tạo khác nhau. Phương pháp tỉnh huống trong day học đã trải qua một quá trình phát triển lâu dai, từ khi mới hình thành cho đến nay. Ta thấy rằng từ thời xa xưa ở các nước phương Đông cũng đã đề cập tới phương pháp này trong nhiều kinh sách văn học cô qua các thời đại của Trung Quốc mà tiêu biểu là Đức Không Tử (551 — 487 TCN), các tình huống được ông đưa ra đều đến từ cuộc sống xung quanh và gan gũi với bản thân nhằm đút kết ra được những bai học đối nhân xử thế, những tam gương tốt vẻ giáo dục dé lại cho các thé hệ sau này.
Ngoài ra các nước phương Tây, cũng đã sớm nghiên cứu và áp dụng phương pháp xử lí tình huéng vào việc giảng day. Phương pháp tình huống cũng là đã được nghiên cứu sớm nhất tại châu Au, mà đặc biệt la tại Pháp. Có thé chia quả trình phát triển của phương pháp tình huống thành 3 giai đoạn chính: - Giai đoạn đầu (thé ky XVIII - XX) Giai đoạn này được đánh dau bởi sự hình thành của phương pháp tình huéng như một PPDH độc lập. Các nhà giáo dục tiên phong của phương pháp tình huống như John Dewey, Kilpatrick, Dewey,.
đã đưa ra những quan điểm về việc ứng dụng day học tình hudng trong quá trình day học: Quan điểm của John Dewey: quan điểm của ông nằm ở nhiều tác phẩm. bài phát biểu khác nhau, nhưng tác phẩm có ảnh hưởng nhất của ông và quyền sách "Democracy and Education” (1916). Quyền sách nêu bật quan điểm của ông về PPDH tình huồng. phương pháp tình huéng khuyến khích HS tư duy phản biện, phân tích van dé một cách logic va đưa ra giải pháp hợp lí.
HS không chỉ tiếp thu kiến thức một cách thụ động mà cần tham gia vào quá trình học tập một cách chủ động, tích cực thông qua hoạt động thực tiễn. PPDH tình huỗng tạo điều kiện cho HS học tập một cách chu động, tích cực bằng cách đặt HS vào các tình huống thực tế, giúp HS tự mình khám phá kiến thức, giải quyết van đề và phát triển các kĩ năng can thiết cho cuộc sống. Quan điểm của Kilpatrick: Trong quyên sách “The Project Method” (1918), ông đã đưa ra những quan điểm lấy HS làm trung tâm, học tập tốt nhất khi được tham gia các hoạt động liên quan đến thực tiễn. Các hoạt động có thé bao gồm: giải quyết vấn dé, thảo luận, nghiên cứu,.
Qua các hoạt động HS sẽ có cơ hội áp dụng kiến thức vào thực tế, phát triển kĩ năng tư duy,. Giai đoạn phát triển (thé ky XX - XXI) Giai đoạn này được đánh dau bởi sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp tình huéng trong day học. Các nhà nghiên cứu đã tiếp tục phát trién và hoàn thiện phương pháp tinh huống, đông thời áp dụng phương pháp này vào nhiều lĩnh vực giáo đục khác nhau. Trong giai đoạn này, phương pháp tình huéng đã được phát trién thành nhiều loại hình khác nhau.
như: Phương pháp đặt va giái quyết van đề Phương pháp học tập theo dự án Phương pháp đóng vai Phương pháp trò chơi Các loại hình này đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, phù hợp với từng đối tượng HS va nội dung học tập cụ thẻ. Tại Mĩ, phương pháp này gắn với Bộ môn Xã hội học của Trường Đại học Chicago từ đầu thế ki XX đến khoảng năm 1935. Mila một trong những nước ứng dụng sớm các tinh huống vào các bài day. Có thé nói sự kiện đánh dấu sự ra đời của phương pháp tinh huống vào năm 1870, khi được Christopher Columbus Langdell.
Hiệu trưởng Trường Luật Đại học Harvard lúc bay giờ. Ngay thời điểm đó nên giáo dục pháp luật Hoa Kỳ là một quá trình nhàn nhã, không có kỳ thi hoặc yêu câu cô định cho bằng cử nhân luật. Langdell đã nâng chương trình luật lên tiêu chuẩn đại học bằng cách thiết lập một sự tiễn bộ thường xuyên của các khóa học và bài kiểm tra bắt buộc. Sau đó, ông đã nghĩ ra phương pháp tinh hudng, dé sinh viên có thẻ đọc và thao luận về các thầm quyền ban đầu và tự rút ra các nguyên tắc của pháp luật nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy lúc bấy giờ.
Đến năm 1919, phương pháp tình huống một lan nữa được giới thiệu vào giảng dạy kinh doanh bởi Wallace P. Donham, Trưởng khoa Kinh doanh Harvard lúc bấy giờ, ông cũng là một luật sư và tốt nghiệp Trường Luật Harvard. Dưới sự lãnh đạo của Dean Donham, 18 900 tinh huống đã được viết từ năm 1920 đến năm 1947. Ngoài ra, William Ellet là giảng viên Trường Đại học Harvard cũng đã nghiên cứu va cho ra đời quyền sách “The case study handbook” (1981) với đa dạng các tình huéng khác nhau.
quyền sách trình bày một cách tiếp cận mới day tiềm năng để phân tích, thảo luận và viết về các trường hợp một cách hiệu quả. Cuốn sách này đã giúp sinh viên MBA trên toàn thé giới phát triển kĩ nang phân tích, tư duy phản biện và giao tiếp hiệu quả, những kĩ năng thiết yếu cho thành công trong sự nghiệp kinh đoanh. Các chương đầu cho thấy cách phân loại các trường hợp theo nhiệm vụ phân tích ma chúng yêu cầu (đưa ra quyết định, thực hiện đánh giá hoặc chân đoán vấn đẻ) và nhanh chóng thiết lập nền tảng kiến thức vé một trường hợp. Một nghiên cứu của các nhà nghiên cứu tại Dai học California, Berkeley (Mỹ) cho thay, HS học tập theo PPDH tình huống có khả năng giải quyết van dé, tư duy sáng tạo và vận dụng kiến thức vào thực tiễn tốt hơn so với HS học tập theo phương pháp truyền thông.
Nghiên cứu nay cũng cho thay, HS học tập theo PPDH tinh huỗng có hứng thú học tập hơn và tham gia tích cực hơn vao các hoạt động học tập. Một nghiên cứu khác của các nha nghiên cứu tại Đại học Harvard (Mỹ) cho thấy, HS học tập theo PPDH tình huống có khả năng hiểu sâu sắc hơn vẻ kiến thức được học. Nghiên cứu này cũng cho thấy, HS học tập theo PPDH tình huống có kha năng ghi nhớ kiến thức lâu hơn so với HS học tập theo phương pháp truyền thông. Phương pháp này dần được biết đến và ứng dụng ngày một rộng rãi, các nước Hàn Quốc, Canada,.
cũng đã ứng dụng phương pháp tình huéng vào công tác giảng dạy vào những ngành đảo tạo khác nhau giúp cho người học phát triển được các NLTD của bản thân. - Giai đoạn hiện nay (từ thé ki XXI - đến nay) Hiện nay, phương pháp tình huồng đang được ứng dụng rộng rãi trong dạy học ở nhiều nước trên thé giới, trong đó có Việt Nam. Phương pháp này được coi là một trong những PPDH tích cực mang lại hiệu quả cao trong việc phát triển năng lực của HS. Trong giai đoạn này, phương pháp tình huồng tiếp tục được nghiên cứu và phát triển để phù hợp với xu hướng đổi mới giáo dục hiện đại.
Các nhà nghiên cứu đang tập trung vào các van đề như: « _ Phát trién các tình hudng tình huéng có tính thực tiễn, gắn với cuộc sông của HS. « Tang cường tính hợp tác, trải nghiệm của HS trong quá trình giải quyết tinh huỗng. ‹ Sir dụng các công nghệ thông tin, truyền thông trong day học tình huống. NLTD là một trong những NL mà các giáo sư trên thé giới dé cao trong việc học tập và luôn áp dung trong quá trình giảng day trong nhiều thé hệ qua.
Da có nhiều nghiên cứu về NLTD nhằm phát huy NLTD của HS trong công tác giảng day một cách hiệu quả. Thông qua các nghiên cứu cho ta hiểu rõ hơn về bản chất, cầu trúc, vai trò và cũng như cách phát triển NLTD trong việc giảng dạy. Một trong những nghiên cứu đầu tiên về NLTD được thực hiện bởi nhà tâm lí học người Đức Hermann Ebbinghaus vảo cuối thé kỷ XIX. Hermann Ebbinghaus đã nghiên cứu vẻ quá trình học tập và ghi nhớ của con người.
Nghiên cứu của ông còn được gợi nhớ bởi cái tên “Đường cong lãng quên Ebbinghaus”. Qua nghiên cứu đó, ông đã phát hiện ra rằng quá trình học tập và ghi nhớ phụ thuộc vao nhiều yếu tố, bao gồm mức độ phức tạp của thông tin, mức độ liên quan của thông tin với kiến thức hiện có của người học và cách thức trình bày thông tin. Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng NLTD góp phan quan trọng trong học tập, kha năng giải quyết van dé và thành công trong cuộc sông. Những người có NLTD tốt có thé học hỏi nhanh hơn, ghi nhớ các kiến thức, thông tin nhanh hơn, giải quyết van đề hiệu qua hon và có thé nói họ sẽ dé đạt thành công hơn trong học tập, công việc vả cuộc sông.
Các nghiên cứu này đã góp phần phát triển các chương trình giáo đục làm nêu bật vị trí người học và dao tạo nhằm phát triên NLTD cho HS. sinh viên vả người lớn. 10 Ngoài ra, một nghiên cứu "The Impact of Critical Thinking Skills Instruction on Student Achievement" (2007) của Vincent F. Hendricks va Christine S.
Pellegrino được thực hiện bởi Dai hoc Harvard. Nghiên cứu này phan tích dit liệu từ 11 nghiên cứu và cho thấy rằng HS tham gia các chương trình giảng đạy tư duy phản biện có điểm số cao hơn trong các bài kiểm tra chuẩn hóa vẻ toán, khoa học va đọc hiểu so với HS không tham gia. Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Dai hoc Oxford, nghiên cứu "The role of divergent thinking in problem solving" (2012). Nghiên cứu này điều tra mối liên hệ giữa tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết van dé.