CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN CAO ĐẲNG KĨ THUẬT 1. Lịch sử nghiên cứu đề tài 1.1 Một số kết quả nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan đến năng lực sáng tạo Qua tìm hiểu các tài liệu tham khảo, các tác giả đã có những tổng kết khá đầy đủ về dạy học theo định hướng năng lực [2],[12],[17],[18]. Vào những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà Giáo dục học Xô Viết bắt đầu quan tâm và đã đề cập đến vấn đề rèn luyện tư duy sáng tạo cho HS trong nhà trường. Các công trình nghiên cứu của các tác giả: I.
Ôkon,…đã nêu bật vai trò của DH nêu vấn đề trong việc phát triển tính sáng tạo của HS. Đến năm 1996, Howard Gardner, giáo sư tâm lý học của ĐH Harvard (Mỹ) đã đề cập đến khái niệm năng lực qua việc phân tích 7 mặt biểu hiện của trí tuệ con người: ngôn ngữ, logic toán học, âm nhạc, không gian, hình thể, giao cảm và nội cảm. Ông khẳng định: mỗi mặt biểu hiện của trí tuệ đều phải được thể hiện hoặc bộc lộ dưới dạng sơ đẳng hoặc sáng tạo đỉnh cao. Tác giả đã kết luận rằng: Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được.
Tony Buzan [23] đã đề xuất sơ đồ tư duy (Mind Map) để giúp người học phát triển tư duy. Đây là hình thức ghi chép bằng hình vẽ có sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng, nhấn mạnh các ý tưởng. Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng được liên kết với nhau khiến sơ đồ tư duy có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng. Tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh,…gây ra những kích thích rất mạnh lên hệ thống rìa của não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi để vỏ não phân tích, xử lí,.
từ đó giúp người học rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối tượng cần nghiên cứu [1], [7], [18]. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1984, nghiên cứu của nhà giáo dục học Spickler và một số nhà giáo dục học Bắc Mỹ về việc “khảo sát nhiệm vụ thực hành trong các môn khoa học bậc đại học” cho thấy: phải gắn SV vào quá trình học tập tích cực; làm cho SV có trách nhiệm học và lựa chọn tiến hành thí nghiệm một cách hứng thú; đòi hỏi SV phải áp dụng nhiều kỹ năng xử lý thí nghiệm bao quát hơn, đáp ứng được yêu cầu SV tự nghiên cứu, tự học, tự phát triển tư duy và phát huy tính sáng tạo. Năm 2010, nghiên cứu của Học viện Công nghệ và tài nguyên Khoa học, Đại học Chế tạo Sơn Đông, Trung Quốc đã đề cập đến việc bồi dưỡng năng lực luyện tập, năng lực tự tìm tòi đọc tài liệu, năng lực nghiên cứu của SV. Ở Việt Nam, trước đây, việc phát triển năng lực cho người học cũng đã được quan tâm triển khai áp dụng trong dạy học mặc dù chưa được nghiên cứu, thực hiện một cách hệ thống.
Tuy nhiên, phải đến những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, mới có một số công trình nghiên cứu một cách bài bản về việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực, phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS phổ thông. Các tác giả đã giới thiệu một số PP và kĩ thuật DH tích cực như: DH theo DA, DH theo HĐ, DH theo góc, kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật 6 chiếc mũ,. nhằm tích cực hóa hoạt động của người học. Chẳng hạn, trong bài “Phát triển trí sáng tạo của HS và vai trò của giáo viên” GS.
Trần Bá Hoành [12] cho rằng: Muốn phát triển trí sáng tạo của HS, giáo viên phải biết luyện tập cho các em nhìn nhận mỗi sự kiện dưới những góc độ khác nhau, biết đặt ra nhiều giả thuyết khi phải lí giải một hiện tượng, biết đề xuất những giải pháp khác nhau khi phải xử lí một tình huống. Phải giáo dục cho HS không vội vã bằng lòng với giải pháp đầu tiên được đề xuất, không suy nghĩ cứng nhắc theo những quy tắc lí thuyết đã học trước đó, không máy móc vận dụng những mô hình hành động đã gặp trong sách vở để ứng xử trước tình huống mới. Để rèn luyện năng lực sáng tạo cho người học một cách hiệu quả, GS. Nguyễn Cương [3] cho rằng cần phải lựa chọn một logic nội dung thích hợp để chuyển kiến thức khoa học thành kiến thức của HS; tạo động cơ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hứng thú, tình huống có vấn đề để cho SV sáng tạo; tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới; tổ chức hoạt động sáng tạo khi luyện tập, giải bài tập sáng tạo; luyện tập sự suy luận, phỏng đoán và xây dựng giả thuyết; tập cho HS, SV tự lực làm các đề tài nhỏ; rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo liên hệ lí thuyết với thực tiễn; kiểm tra đánh giá kịp thời những biểu hiện sáng tạo của HS.
Cao Thị Thặng đã có một số nghiên cứu cụ thể về phát triển năng lực nghề nghiệp cho SV sư phạm Hóa, phát triển năng lực giải quyết vấn đề, phát triển các năng lực thông qua PPDH tích cực, thí dụ PPDH theo góc, DH theo HĐ, theo DA, PP bàn tay nặn bột nhằm phát triển năng lực cho HS trung học phổ thông (THPT) và SV CĐ sư phạm [22]. Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ ngày 02 tháng 11 năm 2005 “Về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020” đã xác định: “Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo 3 tiêu chí: trang bị cách học; phát huy tính chủ động của người học; sử dụng CNTT và truyền thông trong hoạt động dạy và học. Khai thác các nguồn tư liệu giáo dục mở và nguồn tư liệu trên mạng Internet. Lựa chọn, sử dụng các chương trình, giáo trình tiên tiến của các nước” [21].
Vấn đề đổi mới PPDH ở ĐH,CĐ là một đòi hỏi bức thiết không chỉ đặt ra cho ngành giáo dục mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội. Ở Việt Nam, nhiều trường ĐH,CĐ cũng đã triển khai việc đổi mới PPDH. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc áp dụng các PPDH đó ở các trường ĐH,CĐ chưa đạt được nhiều kết quả. Mặc dù cho đến thời điểm này, giáo dục ĐH,CĐ đã và đang thay đổi từ mục tiêu đến nội dung cũng như cơ sở hạ tầng, trang thiết bị dạy và học, cơ chế quản lí,.
nhưng PPDH vẫn chỉ dừng lại ở sự thể nghiệm, mò mẫm, nặng về hình thức, chưa có sự đột phá, chưa có cơ chế để trở thành một phong trào sâu, rộng. Hiện nay hầu hết các trường ĐH,CĐ đều dạy theo học chế tín chỉ, tuy nhiên vấn đề thường được GV quan tâm khi dạy theo học chế tín chỉ chủ yếu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là thời gian lên lớp. Số giờ dành cho GV dạy lý thuyết và thảo luận khi đào tạo tín chỉ đã giảm nhiều so với khi đào tạo theo học phần niên chế. Thực tế việc đào tạo tín chỉ đã thành công ở một số trường, cho phép khẳng định đào tạo tín chỉ không làm giảm mà còn có thể nâng cao chất lượng của SV tốt nghiệp.
Một câu hỏi đặt ra là tại sao thời gian lên lớp của GV giảm đi khá nhiều mà đào tạo theo tín chỉ vẫn có thể tăng chất lượng đào tạo. Vấn đề ở đây chính là đổi mới PPDH được quan tâm đặc biệt trong đào tạo tín chỉ. Để đổi mới PPDH ở ĐH,CĐ trước hết phải đổi mới nội dung chương trình, PP dạy, PP học theo mục tiêu đào tạo ở trường ĐH,CĐ. Nội dung chương trình phải được xây dựng theo mục tiêu định sẵn, cần chú ý đến những yêu cầu mới trong mục tiêu đào tạo ĐH,CĐ để bồi dưỡng năng lực cho SV trước khi tốt nghiệp.
Đổi mới PP dạy của GV: cần dạy cho SV năng lực nhận thức, kĩ năng, kĩ xảo, năng lực sáng tạo. Để thực hiện được điều đó thì GV phải sử dụng nhiều PPDH khác nhau, tùy theo mục tiêu, tính chất môn học và đặc điểm của SV. Đổi mới PP học của SV: chú trọng PP tự học, chủ động, tích cực học theo nhóm, theo lớp trong xêmina, làm thí nghiệm, thực hành và nghiên cứu khoa học [1], [2], [4], [5]. Ngoài ra cần phải tổ chức cho các GV nghiên cứu đổi mới PP dạy và học, nghiên cứu cải tiến công tác quản lí, trong đó quan trọng là bồi dưỡng nhận thức và tri thức về PPDH ở trường ĐH,CĐ.
Những dấu hiệu đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực Có bốn dấu hiệu đặc trưng cơ bản để phân biệt PP dạy học tích cực với PP dạy học thụ động: - DH thông qua tổ chức các hoạt động học tập của SV. Trong PP dạy học tích cực, người học, đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể của hoạt động học, được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo. Thông qua đó, người học tự lực khám phá những điều mình chưa biết chứ không phải là thụ động tiếp thu những trí thức đã được giáo viên sắp đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, vừa nắm được kiến thức, kĩ năng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mới, vừa nắm được PP tìm ra kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo khuôn mẫu có sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. - DH chú trọng rèn luyện PP tự học: PP dạy học tích cực chú trọng rèn luyện PP tự học cho SV không chỉ là biện pháp nâng cao hiệu quả DH mà còn là một mục tiêu học tập.
Nếu rèn luyện cho người học có được PP, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ có được lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có của mỗi người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. - Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học nhóm: Nếu trình độ kiến thức tư duy của SV không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng PP dạy học tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập.