đặt vấn đề và giải quyết vấn đề vì trong quá trình mô hình hóa toán học, học sinh sẽ phải liên tục tự đặt ra câu hỏi và phỏng đoán. Nhược điểm của mô hình hóa toán học Trong quá trình mô hình hóa toán học, có thể có nhiều cách biểu diễn mô hình khác nhau nhưng chúng sẽ được sắp xếp, lựa chọn hoặc tích hợp lại với nhau. Sau đó những cách biểu diễn này sẽ được phân tích, thử nghiệm để điều 12 chỉnh hoặc loại bỏ không sử dụng trong các bước tiếp theo của quá trình mô hình toán học. Mô hình hóa toán học là một hoạt động phức tạp, đòi hỏi người học phải có nhiều năng lực khác nhau không chỉ trong toán học mà còn phải có kiến thức liên quan đến các tình huống thực tế.
Học sinh phải biết và hiểu được nhiều cách biểu diễn khác nhau, từ đó lựa chọn và áp dụng các phương pháp, công cụ toán học phù hợp để đưa ra phương án giải quyết vấn đề hợp lý nhất. Trong quá trình giảng dạy, khi giáo viên đưa vào các vấn đề thực tiễn thì nhiều học sinh gặp khó khăn khi thực hiện yêu cầu giải quyết vấn đề đó. Nguyên nhân là vì học sinh không biết phải dùng kiến thức toán học nào liên quan đến vấn đề thực tiễn mà giáo viên đưa ra. Do đó học sinh không thể xây dựng được bài toán bằng ngôn ngữ toán học và tìm ra cách giải quyết vấn đề bằng quá trình mô hình hóa toán học.
Như vậy, học sinh có thể gặp khó khăn ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình thực hiện mô hình hóa toán học. Khó khăn thường tập trung ở các hoạt động: nhận biết tình huống, chuyển đổi ngôn ngữ, tìm cách giải và đánh giá quá trình giải quyết vấn đề bằng mô hình hóa toán học. Để khắc phục những khó khăn trên, cần phải kết hợp nhiều giải pháp như tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện dạy học; tổ chức biên soạn chương trình, nội dung học; bồi dưỡng chuyên đề cho giáo viên; tăng cường tài liệu học tập cho học sinh. Trong đó cần ưu tiên việc nâng cao năng lực nghề nghiệp cho giáo viên, hỗ trợ giáo viên những nghiệp vụ sư phạm để dạy học phát triển năng lực mô hình hóa toán học cho học sinh.
Năng lực mô hình hóa toán học 1. Khái niệm năng lực mô hình hóa toán học Năng lực mô hình hóa toán học là 1 trong 5 thành tố cốt lõi của năng lực toán học. Năng lực mô hình hóa toán học được chương trình GDPT 2018 [3] mô tả thông qua 3 loại hành động: 13 - Xác định được mô hình hóa toán học (gồm công thức, phương trình, bảng biểu, đồ thị, .) để mô tả các tình huống trong các bài toán thực tế. - Giải quyết các vấn đề toán học trong mô hình được thiết lập.
- Thể hiện và đánh giá được lời giải trong ngữ cảnh thực tế và cải tiến được mô hình nếu cách giải quyết không phù hợp. Năng lực mô hình hóa toán học là khả năng mà học sinh có thể thực hiện đầy đủ các giai đoạn của quá trình mô hình hóa nhằm giải quyết vấn đề, tình huống được đặt ra. Theo chương trình PISA đánh giá học sinh quốc tế theo 8 năng lực đặc trưng của toán học: Tư duy và lập luận; suy luận và chứng minh toán học; giao tiếp toán học; mô hình hóa; nêu và giải quyết vấn đề; biểu diễn, sử dụng kí hiệu toán học và ngôn ngữ toán học; sử dụng công cụ tính toán. Năng lực mô hình hóa toán học là năng lực gần liền với cấu trúc mô hình hóa, tức là chuyển đổi tình huống “thực tiễn” dưới dạng toán học, xây dựng mô hình toán học từ các tình huống thực tiễn dựa trên các công cụ toán học; giải thích các mô hình toán học theo nghĩa “thực tế”.
Như vậy, thông qua tìm hiểu, phân tích vấn đề, tình huống chưa có cách giải quyết, học sinh tìm cách đưa vấn đề, tình huống đó về mô hình toán học đã biết cách giải quyết, qua đó học sinh có thể phát triển năng lực mô hình hóa toán học. Biểu hiện của năng lực mô hình hóa toán học Ở bậc tiểu học, năng lực mô hình hóa toán học được thể hiện trong việc giải quyết các bài toán có lời văn. Mô hình hóa thường được biểu diễn dưới dạng biểu tượng như hình chữ nhật, hình thang, hình vuông, hình tròn,.; diễn tả các khái niệm toán học và mối quan hệ giữa các khái niệm đó. Học sinh tiểu học cần lựa chọn được các phép toán, công thức số học, bảng biểu, hình vẽ để trình bày, diễn đạt các nội dung của tình huống, sau đó giải quyết các bài toán xuất hiện từ sự lựa chọn trên.
Cuối cùng là nêu được câu trả lời cho tình huống 14 xuất hiện trong bài toán thực tiễn. Tuy nhiên ở bậc tiểu học quá trình mô hình hóa không được thể hiện rõ ràng. Ở bậc trung học, bài tập toán thường được chia thành 3 dạng: dạng thứ nhất là vận dụng mối quan hệ trong nội bộ môn toán, dạng thứ 2 là giải quyết các vấn đề thực tiễn dưới dạng toán học thuần túy, dạng thứ 3 là giải bài toán thực tế thông qua mô phỏng và mô hình hóa toán học. Học sinh cần linh hoạt trong việc giải hai dạng bài đầu tiên, từ đó chuẩn bị cho việc giải dạng bài thứ ba.
Học sinh cần sử dụng các mô hình toán học để mô tả tình huống xuất hiện trong một số bài toán thực tiễn, giải quyết được những bài toán đó và làm quen với việc kiểm chứng tính đúng đắn của lời giải. Quá trình mô hình hóa đòi hỏi hợp tác theo nhóm và thảo luận để có thể liên kết các ý tưởng của các thành viên. Đặc biệt, ở bậc trung học phổ thông, học sinh cần phải giải quyết những bài toán thực tiễn phức tạp hơn, phải có kỹ năng thiết lập các mô hình toán học để mô tả tình huống đặt ra, đòi hỏi phải lý giải những kết luận thu được từ các tính toán có ý nghĩa hay không, có phù hợp với thực tiễn hay không. Hiện nay, trong quá trình dạy học, người ta chú trọng việc tự học, tự nghiên cứu của học sinh nhằm hướng đến sự lĩnh hội tri thức và trang bị kĩ năng sống cho học sinh.
Do đó, giáo viên phải là người hướng dẫn tìm tòi, khám phá tri thức, tích hợp các tình huống thực tế hàng ngày vào các tình huống dạy học trên lớp để đạt được mục tiêu liên hệ tri thức với thực tiễn, ứng dụng những kiến thức toán học vào thực tế. Quy trình mô hình hóa toán học Có nhiều sơ đồ đã được sử dụng để chỉ ra bản chất của quá trình mô hình hóa toán học cũng như là hướng dẫn để thiết kế các nhiệm vụ mô hình hóa và thực hiện mô hình hóa trong lớp học. Sơ đồ của Bloom (2005) 15 Sơ đồ của Bloom được xem là cơ sở cho tất cả các hoạt động mô hình hóa và những thay đổi của các quy trình mô hình hóa ngày nay. Sơ đồ này bao gồm 7 bước: Bước 1: Hiểu tình huống được cho, xây dựng một mô hình cho tình huống đó; Bước 2: Đơn giản hóa tình huống và đưa các biến phù hợp vào để được mô hình thực của tình huống; Bước 3: Chuyển từ mô hình thực sang mô hình; Bước 4: Làm việc trong môi trường toán học để đạt được kết quả toán; Bước 5: Thể hiện kết quả trong ngữ cảnh thực tế; Bước 6: Xem xét tính phù hợp của kết quả hay phải thực hiện chu trình lần 2; Bước 7: Trình bày cách giải quyết.
16 Mô hình 3 thực Mô hình toán 2 1 Tình huống Mô hình tình huống thực 4 7 6 Kết quả thực Kết quả toán 5 Thế giới thực Toán học Sơ đồ 1. Quy trình mô hình hóa 7 bước của Bloom. Sơ đồ của Swetz và Hartzler Theo Swetz và Hartzler, quy trình mô hình hóa toán học gồm 4 giai đoạn chủ yếu sau [7]: - Giai đoạn 1: Quan sát hiện tượng thực tiễn, phác thảo tình huống và phát hiện các yếu tố (như biến số tham số) quan trọng, có ảnh hưởng đến vấn đề thực tiễn; - Giai đoạn 2: Lập giả thuyết về mối quan hệ giữa các yếu tố trong bài toán sử dụng ngôn ngữ toán học. Từ đó thiết lập mô hình toán học tương ứng; - Giai đoạn 3: Áp dụng các phương pháp và công cụ toán học phù hợp để mô hình hóa bài toán và phân tích mô hình đó; - Giai đoạn 4: Thông báo kết quả, đối chiếu mô hình với thực tiễn và đưa ra kết luận.
Có thể mình họa quá trình trên bằng sơ đồ sau [7]: 17 Xây dựng mô hình Thực tiễn Toán học Vấn đề Giải quyết về Diễn đạt bằng thực tiễn tính huống ngôn ngữ toán học Công cụ Không toán học Có Lời giải Kết quả và dự Lời giải có ý nghĩa đoán về thực tiễn trong thực tiễn không? toán học Hiểu tình huống thực tế Sơ đồ 1. Quy trình mô hình hóa toán học trong dạy học môn Toán. Sơ đồ theo PISA (2006) Sơ đồ theo PISA (2006) gồm 5 bước: Bước 1: Bắt đầu từ một vấn đề được đặt ra trong thực tế; Bước 2: Nhận ra các kiến thức toán phù hợp với vấn đề, tổ chức lại vấn đề theo các khái niệm toán học; Bước 3: Không ngừng cắt tỉa các yếu tố thực tế để chuyển vấn đề thành một bài toán mà thể hiện trung thực cho tình huống; Bước 5: Làm cho lời giải của bài toán có ý nghĩa đối với tình huống thực tế, xác định những hạn chế của lời giải. 18 Thế giới hiện thực Thế giới toán học 5 Lời giải thực tế Lời giải toán học 5 4 Vấn đề thực tế Vấn đề toán học 1, 2, 3 Sơ đồ 1.
Quy trình mô hình hóa theo PISA. Quy trình mô hình hóa theo tác giả Nguyễn Danh Nam.