CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CỦA HỌC SINH 1. Năng lực hợp tác 1. Khái niệm a) Năng lực Theo từ điển tiếng Việt: “NL là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. NL là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [22].
Theo nhóm tác giả Đỗ Hương Trà và cộng sự: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [3]. Luận văn của tác giả Phùng Thu Hằng có nêu: “NL là khả năng huy động tất cả các kiến thức, kỹ năng sẵn có hoặc học được để thực hiện hoạt động nào đó một cách thành thục và hiệu quả” [16]. Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng: “NL là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả cả hành động giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [11]. Trong luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đức Giang nhận định: “NL là sự vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ để thực hiện được các nhiệm vụ công việc đáp ứng theo các tiêu chuẩn, tiêu chí cho từng nhiệm vụ, công việc.
NL là sự kết hợp giữa kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ với các kỹ năng thực hành, giao tiếp, giải quyết các vấn đề trí tuệ, thái độ nghề nghiệp tích cực, khát vọng học tập,…yếu tố kỹ năng thực hành là biểu hiện cao nhất của NL” [9]. Tác giả Đinh Quang Báo: “NL là thuộc tính tích hợp của nhân cách, là tổ hợp các đặc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp” [2]. 4 Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [1]. b) Năng lực hợp tác Sự hợp tác là linh hồn của cuộc sống xã hội.
Từ điển bách khoa Việt Nam cho rằng: “Hợp tác là chung sức, giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung”, “Khái niệm hợp tác được hiểu là quá trình tương tác xã hội, trong đó các cá nhân cùng chung sức, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc nào đó nhằm đạt được mục đích chung [5]. Theo Nguyễn Thị Nhị, Hà Văn Dũng: “NLHT là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết đoàn kết và biết cách cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ, lắng nghe và quan tâm tới các quan điểm của mỗi cá nhân; hiểu biết và quan tâm tới nhau; giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau, phát huy thế mạnh của mỗi cá nhân trong một công việc, lĩnh vực nào đó vì mục đích chung có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm” [12]. Trịnh Thanh Hải: “NLHT được xem là một trong những năng lực quan trọng của con người trong xã hội hiện nay” [15]. Vì vậy, phát triển NLHT từ trong trường học đã trở thành một xu thế giáo dục trên thế giới.
Theo nhà tâm lí học David và Roger Johnson: “Học tập hợp tác là một loại hình cụ thể của học tập tích cực, là một phương pháp giảng dạy chính thức, trong đó HS làm việc cùng nhau trong các nhóm nhỏ để đạt được một mục tiêu học tập chung” [19]. Khi làm việc cùng nhau, HS học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp đỡ, lắng nghe người khác, hòa giải bất đồng và giải quyết vấn để theo hướng dân chủ. Đây là hình thức học tập giúp HS ở mọi cấp học phát triển cả về quan hệ xã hội lẫn thành tích học tập. Theo chúng tôi, NLHT có thể hiểu là khả năng tương tác của cá nhân với cá nhân và tập thể trong học tập và cuộc sống.
Một cá nhân có NLHT tốt thể hiện ở khả năng làm việc hiệu quả của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tương trợ lẫn nhau để cùng hướng tới một mục đích chung [15]. Trong môn VL, NLHT thể hiện ở việc HS cùng chia sẻ, phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các nhiệm vụ học tập diễn ra trong giờ học. Thông qua các hoạt động nhóm, cặp, HS thể hiện suy nghĩ của cá nhân về những 5 vấn đề đặt ra, đồng thời lắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm để tự điều chỉnh mình. Đây là yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách của người HS trong bối cảnh mới.
Biểu hiện của năng lực hợp tác Theo Công văn số 4669/BGDĐT-GDTrH “Hướng dẫn việc đánh giá HS theo mô hình trường học mới” của Bộ GD&ĐT, để đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của HS, GV cần quan sát các biểu hiện trong quá trình học tập, sinh hoạt và tham gia các hoạt động tập thể để nhận xét sự hình thành và phát triển một số phẩm chất, năng lực của HS [15]; từ đó động viên, khích lệ, giúp HS khắc phục khó khăn; phát huy ưu điểm và các phẩm chất, năng lực riêng; điều chỉnh hoạt động, ứng xử để tiến bộ. Các biểu hiện của NLHT được thể hiện như sau: [12] - Xác định mục đích và phương thức hợp tác: Chủ động để xuất mục đích hợp tác khi được giao các nhiệm vụ; xác định được loại công việc nào có thể hoàn thành tốt nhất bằng hợp tác theo nhóm với quy mô phù hợp. - Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân: Biết trách nhiệm, vai trò của mình trong nhóm ứng với công việc cụ thể; phân tích nhiệm vụ của cả nhóm để nêu được các hoạt động phải thực hiện, trong đó tự đánh giá được hoạt động mình có thể đảm nhiệm tốt nhất để tự đề xuất cho nhóm phân công. - Xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác: Nhận biết được đặc điểm, khả năng của từng thành viên cũng như kết quả làm việc nhóm; dự kiến phân công từng thành viên trong nhóm các công việc phù hợp.
- Tổ chức và thuyết phục người khác: Chủ động và gương mẫu hoàn thành phần việc được giao, góp ý điều chỉnh thúc đẩy hoạt động chung; chia sẻ học hỏi các thành viên trong nhóm. - Đánh giá hoạt động hợp tác: Biết dựa vào mục đích đặt ra để tổng kết hoạt động chung của nhóm; nêu mặt được, mặt thiếu sót của cá nhân và của cả nhóm. Các tiêu chí đánh giá năng lực hợp tác Dựa trên các biểu hiện chung của NLHT, quy trình đánh giá NL trong DH VL và quy trình tổ chức DH VL, có thể đánh giá NLHT của HS qua các tiêu chí sau: [14] 6 Bảng 1. Tiêu chí đánh giá NLHT của HS Chỉ số Mức Kí Mô tả mức độ chất lượng hành vi độ hiệu TC1 Nắm được yêu cầu của GV hướng dẫn cụ thể trong Mức 1 1.
Tổ M1 việc tạo nhóm. chức TC1 Tạo nhóm phù hợp, phân chia được vai trò cho mỗi Mức 2 nhóm M2 thành viên. học tập TC1 Chủ động phối hợp việc tạo nhóm hiệu quả, các Mức 3 M3 thành viên hoán đổi được vai trò cho nhau. TC2 Dự kiến được các công việc cần phải làm theo sự Mức 1 M1 hướng dẫn của GV.
Dự kiến được các công việc phải làm và phân công 2. Lập TC2 Mức 2 công việc phù hợp với nguyện vọng, khả năng của kế M2 từng thành viên. hoạch Dự kiến được các công việc phải làm phù hợp với học tập TC2 yêu cầu và nhiệm vụ, phân công công việc phù hợp Mức 3 M3 với nguyện vọng, khả năng của từng thành viên theo trình tự và thời gian hợp lí. Thực Mức 1 Tham gia một phần nhiệm vụ được giao.
M1 hiện TC3 nhiệm Mức 2 Hoàn thành các nhiệm vụ được giao. M2 vụ được TC3 Hoàn thành nhiệm vụ được giao và hỗ trợ các thành giao Mức 3 M3 viên khác trong nhóm hoàn thành nhiệm vụ. Diễn TC4 Có diễn đạt ý kiến, lắng nghe ý kiến của các thành Mức 1 đạt ý M1 viên khác trong nhóm. kiến cá TC4 Có diễn đạt ý kiến, lắng nghe, có phản hồi ý kiến của Mức 2 nhân, M2 một số thành viên khác trong nhóm.
lắng Tập trung chú ý diễn đạt ý kiến, lắng nghe một cách nghe và TC4 Mức 3 chăm chú, đưa ra phản hồi ý kiến của các thành viên phản M3 một cách nhanh chóng và phù hợp. hồi 7 Đánh giá được mức độ thực hiện nhiệm vụ của bản TC5 Mức 1 thân và các thành viên khác trong nhóm theo hướng 5. Tự M1 dẫn của GV. đánh TC5 Đánh giá được mức độ thực hiện nhiệm vụ của bản giá và Mức 2 M2 thân và các thành viên khác trong nhóm.
đánh Đánh giá chính xác mức độ thực hiện nhiệm vụ của giá lẫn TC5 cá nhân và các thành viên trong nhóm, rút kinh nhau Mức 3 M3 nghiệm cho bản thân và góp ý cho các thành viên khác. Thí nghiệm trong dạy học vật lí 1. Khái niệm thí nghiệm vật lí Theo từ điển Việt - Việt: “TN là gây ra một hiện tượng, một sự biến đổi nào đó trong điều kiện xác định để tìm hiểu, nghiên cứu, kiểm tra hay chứng minh, làm thử để rút kinh nghiệm” [12]. Theo Wikipedia Tiếng Việt: “TN, hay ThN, là một bước trong phương pháp khoa học dùng để phân minh giữa mô hình khoa học hay giả thuyết.
Một TN thường có mục đích chính là kiểm tra giả thuyết. Tuy nhiên, TN cũng được dùng để kiểm chứng câu hỏi hoặc kiểm tra kết quả trước đó” [13]. Tác giả Nguyễn Đức Thâm định nghĩa: “TN VL là sự tác động có chủ định, có hệ thống của con người vào các đối tượng của hiện thực khách quan.