Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Một số bài báo, tạp chí về phát triển năng lực hợp tác - Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Dạy học hóa học ở trường THPT theo hướng dạy học tích cực và dạy học hợp tác” [4] của nhóm nghiên cứu khoa Hóa – ĐHSP Tp.
HCM với chủ nhiệm đề tài là PGS. Trịnh Văn Biều (2011), nhóm tác giả đã trình bày các vấn đề về khái niệm và vai trò dạy học hợp tác ở trường THPT. - Trong bài viết: “Dạy học hợp tác – một xu hướng mới của giáo dục thế kỉ XXI” [5], tác giả Trịnh Văn Biều cho rằng “Dạy học hợp tác” là một trong những xu hướng mới có nhiều ưu điểm và hiệu quả cao của giáo dục thế kỷ XXI. Có thể coi DHHT là những PPDH mang tính tập thể, trong đó có sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhân và kết quả là người học tiếp thu kiến thức thông qua các hoạt động tương tác khác nhau giữa người học với người học, giữa người học với người dạy, giữa người học với môi trường.
- Tác giả Thái Duy Tuyên, tài liệu “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới”, NXB Giáo dục (2007) [31], đã dành nguyên chương X (tr. 409 – 438) để đề cập đến dạy học hợp tác nhóm. Tác giả đã nêu lên những vấn đề lí thuyết chung của dạy học hợp tác, qui trình tổ chức và việc bồi dưỡng các kĩ năng hợp tác nói chung. Đây là một tài liệu giúp người đọc nắm được những vấn đề lí luận về DHHT cũng như cách vận dụng mô hình này.
- Trong bài viết “Phương pháp dạy học hợp tác” của tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa, tạp chí Giáo dục số 3 năm 2005, Trường ĐHSP Hà Nội [15], tác giả đã đề cập đến lịch sử ra đời, một số khái niệm, các thành tố cơ bản của phương pháp dạy – học hợp tác, cũng như một số hoạt động thường sử dụng, điều kiện thực hiện và tiêu chuẩn đánh giá khả năng làm việc theo nhóm. Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ về phát triển năng lực hợp tác - Trong luận văn thạc sĩ khoa giáo dục học “Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy và học môn hóa học ở trường trung học phổ thông - phần hóa 10 chương trình nâng cao” của tác giả Hỉ A Mổi, ĐHSP TP. HCM (2009) [20], tác giả đã xây Luan van 5 dựng được 5 hình thức hoạt động hợp tác cùng các phương pháp đánh giá tương ứng, áp dụng để soạn 8 giáo án và 1 chuyên đề về giáo dục môi trường. - Luận văn thạc sĩ: “Sử dụng phương pháp dạy học hợp tác nhóm nhỏ trong dạy học hóa học lớp 11 – chương trình nâng cao ở trường THPT” của tác giả Trần Thị Thanh Huyền, ĐHSP TP.
Trong đề tài tác giả đã trình bày cơ sở lý luận về “Dạy học hợp tác nhóm nhỏ”, sử dụng các cấu trúc của dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ vào các dạng bài cụ thể: dạng bài lý thuyết, dạng bài về chất, dạng bài luyện tập, dạng bài thực hành. - Trong luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Phát triển một số năng lực học tập của HS trong dạy học phần hữu cơ lớp 11 THPT”, ĐHSP TP. HCM (2014) [25], để phát triển một số năng lực: năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, tác giả Phan Thiên Thanh đã sử dụng 4 nhóm biện pháp khác nhau. Nhóm 1: Sử dụng PPDH webquest và dạy học theo hợp đồng.
Nhóm 2: Sử dụng phương tiện dạy học. Nhóm 3: Tổ chức dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS. Nhóm 4: Sử dụng các biện pháp về kiểm tra đánh giá. - Trong luận án tiến sĩ khoa học giáo dục “Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh THCS qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” của tác giả Lê Thị Minh Hoa, Hà Nội (2015) [14], tác giả đã đề ra 5 biện pháp phát triển NLHT cho HS trung học cơ sở qua hoạt động ngoài giờ lên lớp: Trang bị kiến thức, khuyến khích nhu cầu và giáo dục thái độ hợp tác cho học sinh.
Tổ chức các trò chơi đòi hỏi học sinh phải có sự hợp tác với nhau. Sử dụng các tình huống giả định trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm tạo ra môi trường giải quyết vấn đề theo hướng hợp tác. Tạo môi trường trải nghiệm thực tế cho học sinh qua các hoạt động xã hội theo nhóm. Tổ chức các câu lạc bộ theo hướng tăng cường sự hợp tác.
Luan van 6 Đồng thời, tác giả xây dựng khung lý thuyết về NLHT và phát triển NLHT cho HS trung học cơ sở qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. - Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học phần dẫn xuất hidrocacbon hóa học lớp 11 trung học phổ thông” của tác giả Nguyễn Quỳnh Mai Phương, ĐHSP TP. HCM (2015) [22] có đề xuất 4 biện pháp: Phát triển NLHT bằng cách sử dụng phương pháp dạy học theo góc. Phát triển NLHT bằng cách sử dụng phương pháp dạy học theo dự án.
Phát triển NLHT bằng cách sử dụng phương pháp dạy học hợp tác nhóm. Phát triển NLHT bằng một số trò chơi tập thể trong giờ học. - Tác giả Lê Bảo Như Ý, ĐHSP TP.HCM (2015) [32], trong luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Một số biện pháp phát triển năng lực hợp tác của học sinh trong dạy học phần phi kim hóa học 10 trung học phổ thông”, đã đề xuất 6 biện pháp phát triển năng lực hợp tác: Biện pháp 1: Cung cấp cho HS những tri thức về NLHT. Biện pháp 2: Tạo môi trường học tập thân thiện, hứng thú.
Biện pháp 3: Sử dụng các phương pháp dạy học hợp tác. Biện pháp 4: Sử dụng hình thức dạy học ngoài giờ lên lớp và tổ chức trò chơi có nội dung hóa học. Biện pháp 5: Quan tâm đến HS chậm phát triển NLHT. Biện pháp 6: Đánh giá sự tiến bộ của HS qua từng giai đoạn, động viên kịp thời.
- Trong luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Một số biện pháp phát triển năng lực hợp tác của học sinh trong dạy học hóa hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông”, tác giả Hà Như Huệ, ĐHSP TP. HCM (2016) [16] đã đề xuất 4 biện pháp nhằm phát triển năng lực hợp tác: Biện pháp 1: Cung cấp cho HS những kiến thức về NLHT và giáo dục cho HS về giá trị của sự hợp tác. Biện pháp 2: Sử dụng các phương pháp dạy học hợp tác. Luan van 7 Biện pháp 3: Tăng cường các hoạt động trải nghiệm.
Biện pháp 4: Sử dụng một số trang mạng Internet hỗ trợ hoạt đông nhóm. Nhận xét chung Những tài liệu trên đều đã trình bày khá hoàn chỉnh về cơ sở lí luận của dạy học hợp tác cũng như đề xuất các biện pháp nhằm sử dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm vào một số chương, bài học cụ thể trong chương trình hóa học THPT. Qua các nghiên cứu trên, chúng ta có thể thấy được: - NLHT là một trong những năng lực quan trọng cần hình thành cho HS trong giai đoạn đổi mới giáo dục của nước ta hiện nay. - DHHT là một phương pháp hiệu quả giúp nâng cao chất lượng giảng dạy, góp phần rèn luyện cho HS những kĩ năng mềm cần thiết trong cuộc sống hiện đại; là một xu hướng dạy học mới, tích cực và mang tính thiết thực trong xã hội ngày nay.
- Tuy nhiên, việc vận dụng các DHHT phù hợp với từng địa phương, đặc biệt các tỉnh vùng ven còn khá hạn chế và chưa được quan tâm nhiều trong các đề tài nghiên cứu. Đổi mới giáo dục phổ thông 1. Một số quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục phổ thông Theo tài liệu tập huấn 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo [2], những quan điểm chỉ đạo về giáo dục – đào tạo trong thời kì đổi mới có tác dụng quan trọng cho việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn lực ở Việt Nam. Những quan điểm, đường lối chỉ đạo về giáo dục của Đảng và nhà nước được thể hiện trong các văn bản.
Cụ thể, các văn kiện trình Đại hội XII năm 2016 nhấn mạnh sự cần thiết đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn lực. Đại hội đã xác định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy chữ, dạy người, dạy nghề”, đó là “Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục đào tạo theo hướng coi trọng phát triển năng lực và phẩm chất của người học; tiếp tục đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”. Luan van 8 Hòa nhập vào xu hướng toàn cầu, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo đổi mới giáo dục phổ thông để tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện đại. Một số định hướng đổi mới giáo dục phổ thông Trong các văn bản chỉ đạo của nhà nước [2] về đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng đã chỉ ra được một số định hướng cụ thể sau: - Định hướng mục tiêu giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn diện, phát triển những phẩm chất và năng lực ứng với đòi hỏi của sự phát triển kinh tế và xã hội.
- Định hướng phương thức giáo dục là giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. - Định hướng về PPDH là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của HS. Vai trò của người giáo viên trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Hội nghị Trung ương VIII đã chỉ rõ: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh”. Luật Giáo dục năm 2005 cũng khẳng định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục”.
Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, giáo viên không còn giữ vai trò thuần túy truyền đạt kiến thức một chiều mà là người hướng dẫn, định hướng cho học sinh về kiến thức, phương pháp học tập để lĩnh hội một cách hiệu quả nhất [5].