CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cở sở lý luận 1. Các khái niệm cơ bản 1. Giao tiếp Hiện tại chưa có được sự nhất quán từ những nhà nghiên cứu khi bản về giao tiếp.
Nhưng tổng quan lại có thể nêu lên một số khái niệm về giao tiếp như sau: Hoàng Phê (Chủ biên) cùng các cộng sự (1997) đã đưa ra định nghĩa: “Giao tiếp là một quá trình trong đó các bên tham gia tạo ra hoặc chia sẻ thông tin, cảm xúc với nhau nhằm đạt được mục đích giao tiếp.”[15] Nguyễn Trung Kiên (2019) cho rằng: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người trải qua ngôn từ, cử chỉ, điệu bộ. Giao tiếp là sự xác lập và quản lý vận hành những mối quan hệ giữa người với người, hoặc giữa người và những yếu tố xã hội nhằm mục đích thỏa mãn những nhu yếu nhất định.” [7, tr1] Tổng hợp từ các quan điểm trên ta có thể đưa ra khái niệm về giao tiếp như sau: Giao tiếp là một hoạt động thực tiễn nhằm trao đổi thông tin, xác lập và vận hành các mối quan hệ giữa người và người, hoặc giữa người và các yếu tố xã hội khác bằng các biểu đạt thông qua lời nói hoặc hành vi, thể hiện với ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ. Thực hiện với một hoặc nhiều các cách thức trên để phản ánh hiệu quả cảm xúc, thái độ. Từ đó ta thấy được giao tiếp bao gồm những yếu tố như trao đổi thông tin, kiến thiết xây dựng kế hoạch hoạt động giải trí phối hợp, tri giác và khám phá người khác.
Như vậy thì giao tiếp được chia thành ba góc nhìn chính tương ứng với các yếu tố trên đó là: giao lưu, ảnh hưởng tác động qua lại và tri giác. 9 Khía cạnh giao lưu của giao tiếp đi liền với quy trình trao đổi thông tin giữa hai bên giao tiếp, mục tiêu giao tiếp, tâm thế và dự tính của nhau và cả những đặc thù đặc trưng của giao tiếp. Quá trình giao lưu sẽ làm giàu thêm về kỹ năng và kiến thức, kinh nghiệm tay nghề của những người tham gia giao tiếp. Từ nhiều khía cạnh khác nhau ta thấy giao tiếp chịu ảnh hưởng tác động qua lại giữa hai bên.
Với trường hợp này ngôn từ thống nhất cùng với sự hiểu biết về trường hợp, thực trạng giao tiếp là điều kiện kèm theo thiết yếu để bảo vệ sự ảnh hưởng tác động qua lại đạt hiệu suất cao. Có những kiểu tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau như: sự hợp tác và sự cạnh tranh đối đầu, tương ứng với chúng là sự ưng ý hay sự xung đột. Hoạt động giao tiếp chỉ có ở con người, được thể hiện vô cùng rõ nét qua các vai trò sau: - Giao tiếp đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách. Thông qua giao tiếp chúng ta có thể thấy được nhân cách của một con người.
Thấy được tầm quan trọng của giao tiếp nên gia đình nhà trường và toàn xã hội đều quan tâm, uốn nắn, giáo dục việc rèn luyện giao tiếp cho các em ngay từ khi tuổi còn nhỏ. - Hoạt động giao tiếp đã lưu giữ, truyền kiến thức từ thế hệ này sang thế hệ khác giúp loài người phát triển xã hội văn minh thông qua các hoạt động truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, bán hàng, quản lý, ký kết hợp đồng, kinh doanh,… - Hoạt động giao tiếp hằng ngày đã giúp con người thiết lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội. Qua sự giao tiếp thường xuyên với bạn bè, người thân,. trong nhiều hình thái ngôn ngữ với các mục đích khác nhau như trao đổi thông tin, giải quyết vấn đề, thuyết phục,…đã góp phần hình thành và phát triển các mối quan hệ xã hội.
- Giao tiếp tốt giúp con người phát triển tiến bộ trong cuộc sống. Bởi lẽ giao tiếp tốt và giải quyết hài hòa các mối quan hệ sẽ tạo ra tâm lý thoải mái, 10 khai thác tối đa các mối quan hệ xã hội, nâng cao uy tín của bản thân. Giao tiếp trong học tập Giao tiếp trong học tập hay giao tiếp trong môi trường giáo dục đã được nhiều nhà nghiên cứu sư phạm nghiên cứu và đưa ra các quan điểm định nghĩa khác nhau. Trong đó cụ thể một số quan điểm như sau: Phạm Bá Hách (2016) cho rằng: “Giao tiếp trong học tập là quá trình tiếp xúc tâm lý, trong đó diễn ra sự trao đổi thông tin, cảm xúc, nhận thức và tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau trong hoạt động giáo dục, nhằm thiết lập nên những mối quan hệ giáo dục giữa nhà giáo dục với đối tượng giáo dục, giữa đối tượng giáo dục với nhau để thực hiện mục đích giáo dục”.
Theo tác giả, thì trong hoạt động trong học tập, nổi lên không chỉ có mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, học sinh với học sinh mà còn có cả mối quan hệ giữa HS với các đối tượng khác như gia đình và xã hội…. Như vậy, phạm vi chủ thể giao tiếp trong học tập đã được mở rộng.”[9,tr19] Đỗ Quân (2015, Dịch) có quan điểm cho rằng: “Giao tiếp trong học tập là một hoạt động chia sẻ thông tin giữa các cá nhân trong môi trường học tập vì mục đích định hướng kiến thức, kỹ năng trong một nội dung có tính chất học tập.”[16,tr4] Từ các quan điểm nêu trên, có thể thấy sự khác nhau cơ bản của giao tiếp trong học tập và giao tiếp thông thường nằm ở mục đích, nội dung và đối tượng giao tiếp. Có thể phân tích cụ thể như sau: - Về đối tượng: Hoạt động học tập diễn ra trong nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội vì vậy đối tượng giao tiếp trong học tập bao gồm: sự giao tiếp giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với nhau, giữa học sinh với phụ huynh, các thành viên gia định và giữa học sinh với các đối tượng xã hội khác… - Về mục đích: Giao tiếp trong học tập khác với giao tiếp thông thông thường là hoạt động giao tiếp chủ yếu diễn ra trong môi trường giáo dục nhằm chia sẻ, trao đổi vốn sống, kinh nghiệm, những kiến thức trong chương trình học, 11 kỹ năng xã hội…nhằm xây dựng và phát triển tri thức, nhân cách cho học sinh. - Về nội dung: giao tiếp trong học tập là hoạt động giao tiếp có tính chất trao đổi kiến thức, kỹ năng và nội dung liên quan đến học tập và diễn ra trong quá trình học tập như: Những phát hiện trong học tập, các vấn đề trong nội chương trình học tập… Có thể đưa ra khái niệm giao tiếp trong học tập như sau: Giao tiếp trong học tập là hoạt động giao tiếp được tiến hành chủ yếu trong môi trường học tập (Giữa giáo viên và học sinh, học sinh với học sinh và HS với các đối tượng khác có liên quan như gia đình và xã hội…) nhằm mục đích định hướng kiến thức, kỹ năng trong một nội dung có tính chất học tập như: Những phát hiện trong học tập, các vấn đề trong nội chương trình học tập…cho học sinh bằng nhiều phương tiện giao tiếp khác nhau nhưng quan trọng nhất là ngôn ngữ.
Năng lực Khái niệm “Năng lực” có nguồn gốc Latinh là: “competentia”. Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, ngày nay khái niệm “Năng lực” được hiểu theo nhiều nghĩa: Theo Gardner, Howard (1999): “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được”, [26, tr.Weinert (2001) lại cho rằng: “Năng lực là những kĩ năng, kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội và khả năng vận dụng các cách GQVĐ một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt. Theo tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998): “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy. Với tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2007) thì: “Năng lực của học 12 sinh được thể hiện ở khả năng thực hiện hành động cá nhân trong việc giải quyết các nhiệm vụ học tập, hoặc năng lực tiến hành hoạt động học tập của cá nhân người học.
Năng lực nói chung luôn được xem xét trong mối quan hệ với dạng hoạt động hoặc quan hệ nhất định nào đó”, [16]. Trong đề tài này, tác giả đi theo khái niệm năng lực như sau: “Năng lực là khả năng cá nhân huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ, giá trị của bản thân để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định”. Năng lực giao tiếp Năng lực giao tiếp, khái niệm này lần đầu được xuất hiện ở những năm 1970. Nhà ngôn ngữ học Hymex đã phân biệt hai loại năng lực đó là: năng lực ngữ pháp và năng lực sử dụng.
Theo ông thì năng lực giao tiếp là một loại năng lực vốn có của người nói, dùng để nói để hiểu một tình huống trao đổi ngôn ngữ và trả lời một cách thích hợp, bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ. Hiểu ở đây có nghĩa là đối chiếu một ngữ nghĩa không chỉ dưới hình thức quy chiếu, nội dung của thông điệp mà nó còn có thể là một hành vi nào đó [29]. Từ đó, khái niệm “năng lực giao tiếp” được hình thành. Deardorff (2017) cũng đã có những nghiên cứu về năng lực giao tiếp.
Theo ông thì năng lực giao tiếp như là một sự diễn đạt, là cách lý giải và đàm phán có ý nghĩa liên quan đến sự tương tác giữa hai hoặc nhiều người hay giữa một người với một văn bản viết hoặc nói [26]. Dựa vào những quan điểm trên, tác giả đã cho rằng: Năng lực giao tiếp là khả năng trình bày, diễn đạt những suy nghĩ, quan điểm, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc của bản thân dưới các hình thức như nói hay viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh giao tiếp và văn hóa; đồng thời đọc hiểu, biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Năng lực giao tiếp trong học tập Toán và các thành phần của năng lực này 13 Các nhà khoa học trên thế giới đã dành sự quan tâm rất nhiều đối với năng lực giao tiếp trong học tập bộ môn Toán học.