Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác trong dạy học kể chuyện chủ đề “Vẻ đẹp quanh em” sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” cho HS lớp 2 trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Chương 2: Cách thức phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác trong dạy học kể chuyện chủ đề “Vẻ đẹp quanh em” sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” cho HS lớp 2 trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Chương 3: Thử nghiệm sư phạm: tiến hành thử nghiệm tại 2 trường TH trên địa bàn thành phố Hải Phòng đại diện cho các khu vực thành thị và nông thôn: Trường TH Võ Thị Sáu quận Lê Chân, trường TH Lý Tự Trọng quận Kiến An và Trường TH Trấn Dương huyện Vĩnh Bảo. Tiến hành thử nghiệm sư phạm nhằm mục đích khẳng định kết quả, tính khả quan của đề tài.
Đưa ra những kết luận ban đầu về quá trình nghiên cứu, từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất đối với các cấp quản lí, nhà trường tiểu học, GV và HS tiểu học. Trong phần phụ lục, chúng tôi xây dựng phiếu điều tra GV và HS; nội dung các giờ học kể chuyện Tiếng Việt trong sách “Kết nối tri thức với cuộc sống”; Xây dựng kế hoạch dạy học kể chuyện cho HS lớp 2 và minh họa một số hình ảnh. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC KỂ CHUYỆN CHỦ ĐỀ “VẺ ĐẸP QUANH EM” 1. Năng lực và năng lực giao tiếp và hợp tác 1.
Năng lực Trong cuộc sống, chắc hẳn ta vẫn thường nghe tới cụm từ “năng lực”, đặc biệt đối với trẻ nhỏ. Năng lực chính là thước đo để đánh giá năng lực, tố chất, kĩ năng cá nhân giữa người này với người kia trong mọi lĩnh vực như lĩnh vực học tập hay công việc, giảng dạy, lãnh đạo… Có nhiều quan niệm về năng lực. Theo từ điển tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [Hoàng Phê (chủ biên)].
Từ điển năng lực của Đại học Harvard cho rằng, năng lực là những thứ mà một người phải chứng minh có hiệu quả trong: Việc làm; Vai trò; Chức năng; Công việc; Nhiệm vụ [Acabiz (biên soạn)]. Còn theo từ điển tâm lý học, năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định [NXB Từ Điển Bách Khoa 2008]. Theo từ điền này, năng lực thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ…) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân. Đó là sự thống nhất hữu cơ đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn: Năng lực là tập hợp toàn bộ các kỹ năng, kiến thức, khả năng, hành vi của một người có thể đáp ứng đối với một công việc nhất định nào đó, đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng để cá nhân có thể hoàn thành một việc nào đó hiệu quả hơn so với người khác.
Năng lực được tạo nên từ tư chất tự nhiên của cá nhân, do luyện tập, học hỏi, làm việc mà có phải trải qua quá trình công tác, rèn luyện thường xuyên mà ngày càng hoàn thiện và phát triển hơn. Năng lực được gắn với từng hoạt động cụ thể, được biểu biểu hiện qua cách giải quyết công việc‚ học tập, thực hiện nhiệm vụ của mỗi người. Năng lực cá nhân 14 là khả năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh ở mỗi cá nhân, và nó được hình thành trong quá trình sống cũng như giáo dục của mỗi người. Bên cạnh đó, năng lực cũng chịu sự chi phối‚ sự ảnh hưởng từ rất nhiều yếu tố như: con người‚ gia đình, môi trường làm việc‚ môi trường giáo dục… Năng lực của mỗi con người phụ thuộc vào từng người về sự tiếp thu, hiểu biết về các lĩnh vực cụ thể, vốn sống của chính họ.
Năng lực bao gồm các yếu tố: Thái độ, kỹ năng, khả năng, kiến thức. Thái độ: là cách một người bộc lộ suy nghĩ, quan điểm, tình cảm, cá tính, hay qua cách phản ứng, cư xử của người đó đối với người khác và với sự việc, hiện tượng xung quanh. Trên thực tế, con người thường thể hiện thái độ của mình thông qua lời nói, cử chỉ, hành vi, nét mặt… để thay cho những phản ứng, cảm xúc và đánh giá của mình với thế giới xung quanh. Những đánh giá đó có thể là mơ hồ bởi chúng có thể gồm cả thái độ tích cực và tiêu cực xen lẫn những cảm xúc không rõ ràng của người thể hiện thái độ.
Kỹ năng: là khả năng vận dụng những kiến thức, hiểu biết của con người để thực hiện một công việc gì đó, có thể là việc nghề nghiệp mang tính kỹ thuật, chuyện môn hoặc việc liên quan đến cảm xúc, sinh tồn, giao tiếp, … để thực hiện hành động gì đó nhằm tạo ra kết quả như mong muốn. Khả năng: mô tả những khả năng chuyện biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc phát sinh trong thực tế. Kiến thức: là những thông tin, nội dung chuyện môn, phương pháp làm việc, quy định, thủ tục… Trong tâm lí học thì năng lực được phân thành năng lực chung và năng lực chuyện môn. Năng lực chung: là năng lực mà có thể hỗ trợ trong nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, trong đó có thể là năng lực tư tưởng, năng lực về khái quát hóa, năng lực nhận xét về tư duy lao động…Năng lực chuyện môn: là một loại năng lực đặc trưng cần thiết trong một lĩnh vực nhất định, ví dụ như năng lực toán học, năng lực hội họa, năng lực kinh doanh, … Trong đó năng lực chuyện môn và năng lực chung có mối quan hệ qua lại lẫn nhau, năng lực chung chính là cơ sở hỗ trợ để đạt năng lực chuyện môn.
Người có năng lực thường được đánh giá cao trong các cơ quan, đoàn, trường lớp. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Người có đức mà không có tài thì làm gì cũng khó. Người có tài mà không có đức thì cũng là người vô dụng". Qua câu nói trên, chúng ta thấy tầm quan trọng của năng lực.
Năng lực là yếu tố giúp cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với người khác, là thước đo để đánh giá các cá nhân với nhau. Giao tiếp – Hợp tác *Giao tiếp là gì? Giao tiếp được định nghĩa là những hoạt động diễn ra mọi lúc, mọi nơi. Giao tiếp chính là cầu nối giữa người với người để chia sẻ suy nghĩ, tình cảm, thúc đẩy mối quan hệ. Góc độ nghiên cứu tâm lý đại cương tác giả Phạm Minh Hạc định nghĩa “giao lưu” là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người - người để hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa người ta với nhau.
Góc độ nghiên cứu tâm lý trị liệu B.S Nguyễn Khắc Viện định nghĩa giao tiếp là sự trao đổi giữa người và người thông qua ngôn ngữ nói, viết, cử chỉ. Lomov nhà tâm lý học người nga, coi giao tiếp là phạm trù cơ bản của tâm lý học hiện đại, là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tư cách là chủ thể. Miaxixev xét giao tiếp dưới góc độ nhân cách bệnh cho rằng: giao tiếp là một quá trình quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân cách cụ thể. Parughin nhà tâm lý học xã hội Nga: Giao tiếp là một quá trình quan hệ tác động giữa các cá thể, là quá trình thông tin quan hệ giữa con người với con người, là quá trình hiểu biết lẫn nhau ảnh hưởng lẫn nhau và trao đổi cảm xúc lẫn nhau.
Georgen Thiner và cộng sự: giao tiếp được coi là sự truyền đạt thông tin. Gruere (1982) đã nêu một định nghĩa có tính chất vật lý “sự giao tiếp là một quá trình chuẩn trong đó một thông điệp được chuyển tải từ một bộ phát mới tới một bộ thu, thông qua một chuỗi các yếu tố được coi là nguồn, địa chỉ. Hiện nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa cho có sự thống nhất cao khi bàn về giao tiếp, tuy nhiên hiểu khái quát khái niệm về giao tiếp: Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ. Giao tiếp là quá trình truyền đạt thông tin giữa các cá nhân hoặc tổ chức khác nhau bằng cách sử dụng các phương tiện như lời nói, văn bản, hình ảnh hoặc âm thanh.
Giao tiếp được coi là một kỹ năng cơ bản và quan trọng trong đời sống cá nhân và công việc, vì nó cho phép chúng ta trao đổi thông tin, ý tưởng và cảm xúc với nhau. Ngoài ra, giao tiếp cũng giúp tạo ra mối quan hệ tốt hơn giữa các cá nhân hoặc tổ chức, giúp chúng ta hiểu và tôn trọng nhau hơn. Giao tiếp được biểu hiện tương đối đa dạng bao gồm trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động phối hợp, tri giác và tìm hiểu người khác. Tương ứng với các yếu tố đó, giao tiếp được nhìn nhận với 3 góc độ khác nhau, đó là giao lưu, tác động qua lại và tri giác.
16 *Phân loại giao tiếp? Có nhiều cách phân loại giao tiếp, cách phân loại chung nhất là căn cứ vào phương tiện giao tiếp và khoảng cách giao tiếp: Căn cứ 1- Căn cứ vào phương tiện giao tiếp a. Giao tiếp bằng phương tiện vật chất: (1) Thông qua các giá trị vật chất mà con người tiếp xúc với nhau, gửi gắm niềm tin nỗi nhớ vào các giá trị vật chất đó; (2) Thông qua các sản phẩm lao động (tác phẩm văn học, hội họa, nghệ thuật.) mà hiểu nhau, nhận thức về nhau; (3) Quần áo, tư trang, vật dụng.mà con người sử dụng trong cuộc sống, lao động mà có cách ứng xử phù hợp b. Giao tiếp bằng các phương tiện ngôn ngữ: (1) Phương tiện này chỉ có ở con người và đến 1 thời điểm nhất định đứa trẻ mới xuất hiện ngôn ngữ nói và sử dụng nó để giao tiếp với người xung quanh. Đến 6 – 7 tuổi trẻ sử dụng ngôn ngữ viết trong giao tiếp; (2) Giao tiếp ngôn ngữ quan tâm đến nội dung của ngôn ngữ.
Đây là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người trong quan hệ người và xã hội.