CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề cơ bản về tư duy và thao tác tư duy 1. Khái niệm tư duy Theo quan điểm của các nhà triết học theo trường phái duy tâm khách quan, tư duy được coi là sản phẩm của "ý niệm tuyệt đối" với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất.
Theo George Wilhemer Fridrick Heghen [15]: "Ý niệm tuyệt đối là bản nguyên của hoạt động và nó chỉ có thể biểu hiện trong tư duy, trong nhận thức tư biện mà thôi". Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao. Về lý thuyết, Karl Marx cho rằng: “Vận động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan được di chuyển vào và được cải tạo/tái tạo trong đầu óc con người dưới dạng một sự phản ánh" [35]. Theo tâm lý học, từ các công trình [18], [24], [17], [31], tư duy được định nghĩa là thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao - bộ não con người.
Tư duy phản ánh thế giới vật chất dưới dạng các hình ảnh, lý tưởng:“Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết”. Quá trình phản ánh này là một quá trình gián tiếp, độc lập và mang tính khái quát, được nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, xuất phát từ sự nhận thức cảm tính nhưng vượt xa các giới hạn của nhận thức cảm tính. Theo Wikipedia [35]: “Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó”. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam [9]: “Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não con người.
Tư 10 duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận. Theo Art Costa, tác giả của một trong nhiều cuốn sách về tư duy cho rằng: “Tư duy là sự cảm nhận của chúng ta khi chúng ta nhận được những dữ kiện, những thông tin diễn ra trong các mối quan hệ” [22]. Nói một cách ngắn gọn là: “Chúng ta suy nghĩ”. Dưới góc độ giáo dục, có thể hiểu tư duy là hệ thống gồm nhiều ý tưởng, tức là gồm nhiều biểu thị tri thức về một vật hay một sự kiện.
Nó dùng suy nghĩ hay tái tạo suy nghĩ để hiểu hay giải quyết một việc nào đó. Theo cách hiểu đơn giản nhất, tư duy là một loạt những hoạt động của bộ não diễn ra khi có sự kích thích. Những kích thích này nhận được thông qua bất kì giác quan nào trong năm giác quan: xúc giác (touch), thị giác (sight), thính giác (sound), khứu giác (smell) hay vị giác (taste) [19]. Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật bên trong của sự vật, hiện tượng ở thực tại khách quan mà trước đó ta chưa biết.
Tư duy là hình thức cao nhất của sự phản ánh, là mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác, tri giác. Hay nói cách khác tư duy là nhận thức lý tính phản ánh những thuộc tính bản chất bên trong, những mối quan hệ liên hệ có tính chất quy luật của sự vật, hiện tượng. Chẳng hạn: Khi gặp một bài toán có đề bài nhiều chữ, kí tự, thông thường HS Tiểu học sẽ nghĩ ngay đến việc thực hiện bài giải, phải viết câu trả lời và phép tính. Đó là nhận thức cảm tính dựa vào tri giác, thói quen,….
Tuy nhiên cần phải thực hiện các TTTD để phân tích bài toán, xác định yêu cầu, mối quan hệ giữa cái đề bài cho và câu hỏi của đề bài. Từ đó HS mới có thể đưa ra hướng giải. Không phải bài toán nào cũng cần thực hiện phép tính, có bài toán chỉ cần lập luận sẽ ra được kết quả. Tuy rằng tư duy phản ánh thuộc tính bản chất bên trong của sự vật hiện tượng nhưng tư duy không phải lúc nào cũng đưa chủ thể đến với cái đúng mà nó còn phụ thuộc vào chiến thuật và phương pháp tư duy của chủ thể.
11 Tóm lại, những vấn đề liên quan đến khái niệm của tư duy được chúng tôi hiểu như sau: Tư duy là một hiện tượng tâm lý, là hoạt động nhận thức bậc cao ở con người. Cơ sở sinh lý của tư duy là sự hoạt động của vỏ đại não. Hoạt động tư duy chính là hoạt động trí tuệ. Mục tiêu của tư duy là tìm ra các triết lý, lý luận, phương pháp luận, phương pháp, giải pháp trong các tình huống hoạt động của con người.
Và về bản chất thì tư duy là một quá trình chủ thể thực hiện các TT trí tuệ nhất định để giải quyết vấn đề mới gặp phải trong cuộc sống. Các đặc điểm và giai đoạn của tư duy Từ các công trình nghiên cứu về các đặc điểm và các giai đoạn tư duy [19], [21], [26], [27], [33], chúng tôi nhận thấy: * Tư duy có 3 đặc điểm cơ bản dưới đây: - Tính có vấn đề: Chúng ta phải tư duy khi gặp phải “tình huống có vấn đề”. Tình huống có vấn đề là tình huống mà nếu chỉ dựa vào những hiểu biết cũ, phương pháp hành động đã biết chúng ta không thể giải quyết được ngay tình huống đó. Khi gặp phải tình huống có vấn đề như vậy, đòi hỏi chúng ta phải vượt qua phạm vi cái cũ để đi tới cái mới.
Cũng chính vì vậy mà tư duy giúp cho chúng ta giải quyết được vấn đề đồng thời hình thành hiểu biết mới thông qua vấn đề đã được giải quyết thành công. - Tính khái quát: Trong thực tế, có nhiều sự vật, hiện tượng có những thuộc tính chung, có mối quan hệ và liên hệ có tính quy luật với nhau. Tư duy cho phép chủ thể có thể phản ánh những thuộc tính, mối quan hệ, liên hệ đó. Vì vậy, tư duy mang tính khái quát.
- Tính độc lập tương đối của tư duy: Tư duy của mỗi con người biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân, nó gắn với não bộ của từng cá thể người nên tư duy mang tính độc lập. Tuy nhiên, tính độc lập của tư duy không độc lập hoàn toàn mà chỉ mang tính chất tương đối. Bởi trong quá trình sống giữa con người với con người luôn có sự giao tiếp với nhau, vì vậy mà tư duy của mỗi người còn chịu sự tác động biến đổi từ tư duy của đồng loại thông qua những hoạt động có tính vật chất. Sự phát triển của tư duy còn bị ảnh hưởng bởi tất cả 12 những tri thức mà nhân loại đã tích lũy được trước đó.
Mặt khác, tư duy còn phản ánh đặc thù logic khách quan theo cách hiểu riêng gắn với mỗi con người. Đó chính là tính độc lập tương đối của tư duy. * Một quá trình tư duy có thể phân chia thành 5 giai đoạn: Xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề; Huy động các tri thức, kinh nghiệm; Sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết; Kiểm tra giả thuyết; Giải quyết vấn đề. Cụ thể với từng giai đoạn như sau: Giai đoạn 1: Xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề Đây là giai đoạn đầu tiên và quan trọng của quá trình tư duy.
Tư duy chỉ nảy sinh khi con người nhận thức được tình huống “có vấn đề” và cần phải giải quyết để thỏa mãn nhu cầu. Mỗi người sẽ nhìn nhận vấn đề một cách khác nhau tùy thuộc vào kiến thức, kinh nghiệm và nhu cầu của người đó. Người càng có nhiều kinh nghiệm trong một lĩnh vực nào đó càng dễ dàng nhìn ra một cách đầy đủ các mâu thuẫn nảy sinh trong phạm vi lĩnh vực đó. Người nào có nhu cầu cao trong vấn đề đó thì sẽ tập trung nhìn nhận vấn đề sâu sắc hơn những người có nhu cầu cơ bản.
Trong giai đoạn này cần chú ý tránh xác định chệch hướng vấn đề. Nếu xác định sai sẽ ảnh hưởng đến những bước sau và có thể không tìm ra phương pháp giải quyết. Giai đoạn 2: Huy động các tri thức, kinh nghiệm Ở giai đoạn này, chủ thể tư duy huy động các tri thức, kinh nghiệm liên quan đến vấn đề cần giải quyết. Sau khi xác định vấn đề chủ thể tư duy bắt tay vào việc tìm kiếm tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau và tập hợp những kinh nghiệm của bản thân hoặc kinh nghiệm học hỏi từ người đi trước có liên quan đến vấn đề, từ đó dần hình thành liên tưởng đến những nội dung có liên quan đến vấn đề trong đầu.
Giai đoạn 3: Sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết Những tri thức, kinh nghiệm sau liên tưởng rất rộng nên cần được sàng lọc cho phù hợp với việc giải quyết vấn đề. Bởi lượng thông tin mà chủ thể tư 13 duy thu được là một lượng thông tin rất lớn từ nhiều phía nhưng không phải thông tin nào cũng chính xác nên cần phải lựa chọn những thông tin phù hợp và đáng tin cậy để đưa vào giải quyết vấn đề. Từ cơ sở dữ liệu phù hợp vừa sàng lọc, chủ thể tư duy hình thành một số phương án có thể có để giải quyết nhiệm vụ nhanh chóng và tiết kiệm thời gian. Chẳng hạn: Khi giáo viên (GV) sưu tầm bài toán nâng cao để rèn luyện cho đối tượng HS tiểu học.
Thường trên các kênh thông tin đưa ra nhiều cách giải, phương pháp giải bài tập đó. Giáo viên cần lựa chọn những phương pháp giải phù hợp với trình độ, khả năng nhận thức của đối tượng HS mà mình đang dạy. Giai đoạn 4: Kiểm tra giả thuyết Sau khi sàng lọc và hình thành giả thuyết, nên trải qua một quá trình kiểm tra trước khi đưa các phương án vào thực hiện tránh mất thời gian vào những phương án không khả thi. Cụ thể là cần kiểm tra xem phương án nào tương ứng với điều kiện và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất.
Nếu: + Phương án được khẳng định thì sẽ sử dụng phương án đó để giải quyết vấn đề. + Phương án bị phủ định thì phải hình thành một quá trình tư duy mới nhằm tìm ra phương án khác phù hợp hơn để giải quyết vấn đề.