Khóa luận tốt nghiệp giáo dục tiểu học phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 4 và lớp 5 thông qua dạy học nội dung kiến thức đo lường về thời gian

Khóa luận tốt nghiệp giáo dục tiểu học tập trung phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 4 và 5 qua dạy học kiến thức đo lường thời gian.

Trường đại học

Đại học Hải Phòng

Chuyên ngành

Giáo dục Tiểu học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lược sử vấn đề nghiên cứu

0.3. Mục tiêu nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Giả thuyết khoa học

0.8. Đóng góp của luận văn

0.9. Cấu trúc đề tài

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Năng lực và năng lực giải quyết vấn đề

1.2. Một số vấn đề dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh Tiểu học

1.3. Dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh Tiểu học

1.4. Biểu hiện năng lực giải quyết vấn đề của học sinh

1.5. Các mức độ phát triển năng lực giải quyết vấn đề

1.6. Cơ sở thực tiễn. Mục tiêu dạy học nội dung kiến thức đo lường về thời gian ở lớp 4, 5

1.7. Nội dung dạy học kiến thức thời gian ở lớp 4, 5

1.8. Yêu cầu cần đạt khi dạy học kiến thức thời gian ở lớp 4, 5

1.9. Thực trạng việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 4, 5 trong chương trình dạy học Toán ở tiểu học

1.10. Đối tượng điều tra

1.11. Nội dung, mục đích điều tra

1.12. Thời gian, địa điểm điều tra

1.13. Phương pháp điều tra. Bảng câu hỏi phỏng vấn

1.14. Kết quả điều tra và phân tích

1.15. Phân tích thực tế

1.16. Năng lực giải quyết vấn đề của HS lớp 4

1.17. Năng lực giải quyết vấn đề của HS lớp 5

1.18. Phân tích dữ liệu khảo sát

1.19. Định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh các lớp 4, 5 qua dạy học nội dung kiến thức đo lường về thời gian

1.20. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH LỚP 4 VÀ LỚP 5 THÔNG QUA DẠY HỌC NỘI DUNG KIẾN THỨC ĐO LƯỜNG VỀ THỜI GIAN

2.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp

2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa

2.3. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu

2.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống

2.5. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ quả

2.6. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

2.7. Một số biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS lớp 4 và lớp 5 thông qua dạy học nội dung kiến thức đo lường về thời gian

2.7.1. Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh liên tưởng, huy động tri thức nhằm tiếp cận, khai thác các tình huống để tiến tới nhận biết, phát hiện vấn đề

2.7.2. Biện pháp 2: Hướng dẫn HS phân tích, xác định mối quan hệ bên trong và những biểu hiện bên ngoài của vấn đề để tìm cách giải quyết cho dạng toán chuyển đổi đơn vị đo thời gian

2.7.3. Biện pháp 3: Tổ chức cho HS phát hiện quy tắc, luyện tập thực hành tính toán trên số đo thời gian

2.7.4. Biện pháp 4: Tập luyện cho HS diễn đạt vấn đề theo nhiều cách khác nhau cho việc giải quyết vấn đề

2.7.5. Biện pháp 5: Sử dụng hợp lí, đúng thời điểm các phương pháp, hình thức tổ chức và phương tiện dạy học để tạo thuận lời cho HS trong việc giải quyết vấn đề

2.8. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

3.2. Địa bàn, thời gian, đối tượng và nội dung thực nghiệm

3.3. Cách tiến hành

3.4. Kết quả thực nghiệm

3.5. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Tóm tắt

I. Phát triển năng lực giải quyết vấn đề

Phát triển năng lực giải quyết vấn đề là một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục hiện đại. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, việc chuyển từ phương pháp dạy học truyền thống sang phương pháp phát triển năng lực người học đang được chú trọng. Học sinh lớp 4học sinh lớp 5 là đối tượng chính của nghiên cứu này, với mục tiêu giúp các em hình thành và phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề thông qua dạy học đo lường thời gian. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề trong giáo dục tiểu học, đặc biệt là trong môn Toán.

1.1. Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của nghiên cứu dựa trên các quan điểm giáo dục hiện đại, trong đó năng lực giải quyết vấn đề được xem là một trong những năng lực cốt lõi. Các nghiên cứu quốc tế và trong nước đều chỉ ra rằng, việc phát triển năng lực này giúp học sinh trở nên chủ động, sáng tạo và có khả năng ứng phó với các tình huống thực tế. Giáo dục tiểu học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nền tảng cho sự phát triển này.

1.2. Thực tiễn giáo dục

Thực tiễn giáo dục hiện nay cho thấy, việc dạy học theo phương pháp truyền thống vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong việc phát huy tính tích cực của học sinh. Phương pháp dạy học mới, tập trung vào việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề, đang được áp dụng để khắc phục những hạn chế này. Nghiên cứu này đề xuất các biện pháp cụ thể để cải thiện hiệu quả dạy học, đặc biệt là trong nội dung đo lường thời gian.

II. Dạy học đo lường thời gian

Dạy học đo lường thời gian là một nội dung quan trọng trong chương trình Toán tiểu học. Tuy nhiên, việc dạy học nội dung này thường gặp nhiều khó khăn do tính trừu tượng và sự phân bố không đồng đều trong chương trình. Nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển năng lực học sinh thông qua các phương pháp dạy học tích cực, giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn biết cách vận dụng vào thực tế.

2.1. Nội dung dạy học

Nội dung đo lường thời gian trong chương trình lớp 4 và lớp 5 bao gồm các khái niệm cơ bản về thời gian, cách chuyển đổi đơn vị đo, và các bài toán ứng dụng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc dạy học nội dung này cần chú trọng đến việc hình thành kỹ năng thực hành và khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống thực tế.

2.2. Phương pháp dạy học

Các phương pháp dạy học được đề xuất trong nghiên cứu bao gồm việc hướng dẫn học sinh liên tưởng, phân tích vấn đề, và thực hành tính toán. Phương pháp này không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy logic và sáng tạo. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng các phương tiện dạy học phù hợp để tạo hứng thú và thuận lợi cho học sinh trong quá trình học tập.

III. Giải quyết vấn đề trong giáo dục

Giải quyết vấn đề trong giáo dục là một kỹ năng quan trọng giúp học sinh không chỉ thành công trong học tập mà còn trong cuộc sống hàng ngày. Nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua các hoạt động dạy học cụ thể, đặc biệt là trong môn Toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực giúp học sinh cải thiện đáng kể khả năng giải quyết vấn đề.

3.1. Kỹ năng giải quyết vấn đề

Kỹ năng giải quyết vấn đề bao gồm khả năng nhận biết, phân tích, và đưa ra giải pháp cho các vấn đề cụ thể. Nghiên cứu này đề xuất các biện pháp giúp học sinh phát triển kỹ năng này thông qua việc hướng dẫn các em cách tiếp cận và giải quyết các bài toán liên quan đến đo lường thời gian. Kết quả thực nghiệm cho thấy, học sinh được áp dụng các phương pháp này có khả năng giải quyết vấn đề tốt hơn so với các phương pháp truyền thống.

3.2. Ứng dụng thực tế

Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng giải quyết vấn đề vào thực tế. Các bài toán liên quan đến đo lường thời gian không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn giúp các em ứng dụng vào các tình huống thực tế trong cuộc sống. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả học tập mà còn giúp học sinh phát triển các kỹ năng sống cần thiết.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp giáo dục tiểu học phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 4 và lớp 5 thông qua dạy học nội dung kiến thức đo lường về thời gian

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Vấn đề Theo từ điển của Hoàng Phê [20]: “ Vấn đề là điều cần được xem xét, nghiên cứu, giải quyết”. Hay có thể hiểu, vấn đề là trạng thái mà ở đó có sự mâu thuẫn hay có khoảng cách giữa thực tế và mong muốn.Xcatkin (1980) [6] đã định nghĩa “ Vấn đề là bài toán mà cách thức hoàn thành hay kết quả của nó chưa được HS biết trước, nhưng HS đã nắm được những kiến thức và kĩ năng xuất phát để từ đó tìm tòi kết quả hay cách thức giải quyết bài toán”. Như vậy, một bài toán được coi là vấn đề nếu HS chưa biết một thuật giải nào để tìm ra các yếu tố chưa biết của bài toán.

Theo tác giả Nguyễn Bá Kim [11] định nghĩa vấn đề từ khái niệm “hệ thống” và “tình huống”. Một tình huống được hiểu là một hệ thống phức tạp gồm chủ thể và khách thể, trong đó chủ thể là người còn khách thể là một hệ thống nào đó. Một bài toán được gọi là vấn đề nếu chủ thể chưa hề có trong tay một thuật giải nào để tìm ra phần tử chưa biết. Theo Nguyễn Hữu Châu [3], “Vấn đề là tình huống mà cá nhân hoặc một nhóm cá nhân có nhu cầu giải quyết, lời giải không có sẵn, cách thức giải quyết không vượt quá xa khả năng của người học.

Vấn đề của người này chưa chắc là vấn đề của người khác.” Đồng quan niệm này, Trần Vui [23] cho rằng: “Vấn đề là một tình huống đặt ra cho cá nhân haowjc một nhóm để giải quyết, mà khi đối mặt với tình huống này họ không thấy ngay được các phương án hoặc con đường để thu được lời giải”.Ia Lence [13] : “Vấn đề là một câu nảy ra hay đặt ra cho chủ thể mà chủ thể chưa biết lời giải từ trước và phải tìm tòi sáng tạo lời giải, nhưng chủ thể đã có sẵn một số phương tiện ban đầu sử dụng thích hợp vào việc tìm tòi đáp án.” Theo quan niệm của V-okon [24]: “Vấn đề trong học tập hình thành từ một khó khăn về lý luận hay thực tiễn mà việc giải quyết khó khăn đó là kết quả của tính tích cực nghiên cứu của bản thân học sinh”. Như vậy, vấn đề là một tình huống được chủ thể chấp nhận giải quyết bằng những “vốn” sẵn có của mình. Ở đây chúng ta hiểu “vốn” sẵn có là những tri thức, kĩ năng, phương thức đã có sẵn nhờ kinh nghiệm sống, nhờ tích lũy trong quá trình học tập. Vấn đề ở đây được hiểu khác so với vấn đề trong nghiên cứu khoa học.

Trong dạy học, chỉ 11 có học sinh chưa biết gảii còn cả nhân loại đều đã biết giải. Và một bài toán có thể là vấn đề đối với đối tượng này nhưng lại không phải là vấn đề đối với đối tượng khác. Tình huống có vấn đề Theo Nguyễn Bá Kim [11]: “Tình huống có vấn đề, là tình huống gợi ra cho học sinh những khó khăn về lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần thiết và có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc nhờ một thuật giải, mà phải trải qua một quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có.” Theo Phạm Hữu Tòng : “Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi học sinh tham gia thì gặp khó khăn, học sinh ý thức được vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề đó và cảm thấy với khả năng của mình thì hi vọng có thể giải quyết được, do đó bắt tay vào giải quyết vấn đề đó. Nghĩa là tình huống này kích thích hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, đề xuất vấn đề và giải quyết vấn đề đã đề xuất.Macmutop [15], tình huống có vấn đề - là sự trở ngại về trí tuệ của con người xuất hiện khi ta chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tới mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc.

Tình huống này kích thích con người tìm tòi cách giải thích hay hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả. Nó quy định sự khởi đầu của tư duy, hành động tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu và giải quyết các vấn đề. Bên cạnh đó, quan điểm của các nhà giáo dục học như L.Makhmutov, Trần Bá Hoành,.về cơ bản cũng đều thống nhất tình huống vấn đề là tình huống thỏa mãn các điều kiện như tồn tại một vấn đề, gọi nhu cầu nhận thức và khơi dậy niềm tin ở khả năng bản thân.

Giải quyết vấn đề Tuy có nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau về thuật ngữ “giải quyết vấn đề” nhưng hiểu theo một cách khái quát, cộng đồng giáo dục quốc tế chấp nhận định nghĩa: “Giải quyết vấn đề là khả năng suy nghĩ và hành động trong những tình huống không có quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường sẵn có. Người giải quyết vấn đề có thể ít nhiều xác định được mục tiêu hành động, nhưng không phải ngay lập tức biết cách làm thế nào để đạt được nó. Sự am hiểu tình huống vấn đề, và lí giải dần việc đạt mục tiêu đó trên cơ sở việc lập kế hoạch và suy luận tạo thành quá trình giải quyết vấn đề.” 12 Theo Nguyễn Bá Kim [11] : “Trong giải quyết vấn đề, thầy giáo tạo ra những tình huống gợi vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó mà kiến tạo tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục tiêu học tập khác”. Như vậy, giải quyết vấn đề là quá trình tư duy phức tạp, bao gồm sự hiểu biết, đưa ra luận điểm, suy luận, đánh giá, giao tiếp,.để đưa ra một hoặc nhiều giải pháp khắc phục khó khăn, thách thức vấn đề.

Trong quá trình giải quyết vấn đề, chủ thể thường trải qua hai giai đoạn cơ bản: - Khám phá vấn đề và tổ chức nguồn lực của chính mình. - Thực hiện giải pháp và đánh giá giải pháp vừa thực hiện, hoặc tìm kiếm giải pháp khác. Trong Toán học, có nhiều cách hiểu khác nhau về giải quyết vấn đề, trong đó có 3 cách hiểu: - Khi giải quyết vấn đề được xem như một mục đích thì nó độc lập với các bài toán cụ thể, với quy trình và phương pháp cũng như đối với nội dung Toán học cụ thể. - Khi giải quyết vấn đề được xem như một quá trình thì các phương pháp, quy trình, chiến lược và các thủ thuật mà học sinh sử dụng để giải toán sẽ là những điều quan trọng.

- Khi giải quyết vấn đề được xem như một kinh nghiệm cơ bản thì những điều cần được quan tâm là các nội dung cụ thể của bài toán, các dạng bài toán và phương pháp giải. Quá trình giải quyết vấn đề đòi hỏi chủ thể phải huy động tất cả những gì đã tích lũy được từ trong tiềm thức như: các khái niệm, quy tắc, công thức, suy luận, dạng toán, phương pháp giải,.cùng với đó là niềm tin vào việc mình suy nghĩ và hành động. Khi giải quyết vấn đề, chủ thể không chỉ suy nghĩ mà phải thực hiện những hành động, thao tác mới có thể đi đến kết quả và đạt được mục tiêu. Từ đó, có thể hiểu rằng: “Giải quyết vấn đề là một quá trình, trong đó người học tiếp cận và xác định được vấn đề cần giải quyết, lựa chọn được một giải pháp tối ưu để giải quyết vấn đề.

Trong quá trình này, đòi hòi người học phải có các kĩ năng tư duy như phân tích, tổng hợp, phê phán, sáng tạo,.nhằm tìm ra con đường mới để giải quyết những vấn đề mà trước đó chưa từng gặp. Năng lực và năng lực giải quyết vấn đề 1. Khái niệm năng lực Khái niệm về năng lực, đã được nhiều nhà khoa học đề cập đến dưới các góc độ, khía cạnh, lĩnh vực khoa học khác nhau: Theo F.Weinert [25]: "Năng lực là tổng hợp khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải quyết.Côvaliôp [4] : “Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu lao động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao.” Theo Xavier Roegiers [21]: “Năng lực là sự tích hợp các kỹ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loạt tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống này đặt ra.” Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của New Zealand [5]: “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó”. Theo Phạm Minh Hạc [8]: “Năng lực là một tổ hợp tâm lý của một người, tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy.” Theo Lê Đức Ngọc :“Năng lực là khả năng vận dụng đồng thời các kiến thức, kĩ năng, thái độ, phẩm chất mà cá nhân đã tích lũy được để xử lí các tình huống có vấn đề hay nói cách khác là để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.” Theo Đặng Thành Hưng [10]: "Năng lực là thuộc tính cá nhân, cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể".

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: "Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó.” Theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 : “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. 14 Mô hình năng lực là mô tả tổ hợp các kiến thức, kĩ năng và đặc điểm cá nhân (thái độ bản thân) cần để hoàn thành tốt một vai trò hoặc một công việc nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Phát Triển Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề Cho Học Sinh Lớp 4 & 5 Qua Dạy Học Đo Lường Thời Gian là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh tiểu học thông qua phương pháp dạy học đo lường thời gian. Tài liệu này không chỉ cung cấp các phương pháp giảng dạy hiệu quả mà còn giúp giáo viên hiểu rõ hơn về cách phát triển tư duy logic và khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến việc cải thiện chất lượng giáo dục tiểu học.

Nếu bạn muốn khám phá thêm về các phương pháp dạy học phát triển năng lực, hãy tham khảo Luận văn thạc sĩ giáo dục học xây dựng và tổ chức dạy học tích hợp chủ đề nước theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn của học sinh lớp 10 trung học phổ thông. Để hiểu sâu hơn về việc sử dụng công cụ hỗ trợ trong dạy học, bạn có thể xem Luận án tiến sĩ xây dựng và sử dụng phim học tập trong dạy học phần cơ học vật lí 10 nhằm bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề của học sinh. Ngoài ra, nếu quan tâm đến việc thiết kế bài tập phân hóa, hãy đọc Luận án tiến sĩ thiết kế bài tập phân bậc theo thang bloom trong dạy học phân hóa ở tiểu học. Mỗi tài liệu này đều mở ra cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và áp dụng hiệu quả vào thực tiễn giảng dạy.