CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Năng lực đọc hiểu 1. Năng lực Năng lực (Competence) có nguồn gốc từ tiếng La-tinh, với nghĩa là gặp gỡ. Từ năng lực được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể tùy thuộc vào những lĩnh vực khác nhau với tình huống và ngữ cảnh riêng biệt như Ability, Aptitude, Capacity,… Và cũng như vây, trong tiếng Việt, từ năng lực gần nghĩa với những từ như tiềm năng, năng khiếu, tài năng,.Có thể thấy, năng lực là một vấn đề khá trừu tượng.
Rất nhiều các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra những quan điểm khác nhau.Leochiev, một nhà tâm lí học cho rằng: “NL là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”. [9; 31] Trong chương trình giáo dục Quécbec (Chương trình QDTH Quécbéc - Bộ giáo dục Canada - 2004): “NL là khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực, Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ phía nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS: những kỹ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn những nguồn lực bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy, cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn tin khác”. [24; 26] Theo Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn trong sách Tâm lý học đại cương (1998): “NL là tổng hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực ấy”. [19; 31] Cụ thể hơn, tác giả Đỗ Ngọc Thống chỉ rõ: “Năng lực (competence) là những kiến thức (knowledge), kĩ năng (skills) và các giá trị (values) được phản ánh trong những thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân”.
[17] 11 Còn trong Chương trình tổng thể 2018, năng lực được định nghĩa là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, … thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Như vậy, đến nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về NL. Từ những quan điểm và phân tích nêu trên, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát: NL là tổng hòa của tiềm năng, khả năng, kỹ năng, tài năng về mặt thể chất, tri thức, tâm lý sẵn có và được đào tạo để thực hiện công việc một cách có hiệu quả và chất lượng cao. Nói đến NL là phải nói tới khả năng thực hiện, nghĩa là phải biết làm chứ không chỉ biết hiểu.
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi đồng ý với cách hiểu về năng lực theo Chương trình tổng thể 2018. Đọc hiểu Đọc là một trong những kỹ năng cơ bản cần được rèn luyện cho HS cùng với các kỹ năng nghe, nói, viết. Bởi lẽ đọc chính là bước đầu tiên để tiếp cận tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, đọc cũng chính là một quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì đã đọc. UNESCO đưa ra: “Đọc là khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in ấn kết hợp với những bối cảnh khác nhau.
Nó đòi hỏi sự học hỏi liên tục cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng và tham gia một cách đầy đủ trong xã hội rộng lớn”.Lơvôp trong Sổ tay thuật ngữ phương pháp dạy học tiếng Nga cho rằng: “Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm)”. [33] 12 Nguyễn Trọng Hoàn nêu ý kiến: “Văn hóa đọc được phát triển trên nền tảng của truyền thống giáo dục gia đình, nhà trường, môi trường cộng đồng và gắn liền với nhu cầu tự học. Để vượt qua mức độ từ người đọc chăm chỉ trở thành người đọc thông minh, việc giáo dục ý thức học tập suốt đời và hình thành phương pháp, kĩ thuật đọc phù hợp vì thế có vai trò cực kì quan trọng”. [37] Trần Đình Sử (2013) cũng khẳng định đọc là quá trình “kiến tạo ý nghĩa, một quá trình đầy thử và sai, loại bỏ cái sai, dần dần xác lập cái đúng.
[16] Tác giả Nguyễn Thanh Hùng cho rằng: “Đọc là khái niệm có tính lịch sử, là biểu hiện sự tiến hóa ngôn ngữ của con người mang bản chất văn hóa, nhận thức bằng ngôn từ để giao tiếp và phát triển cá thể cùng xã hội. Đồng thời, đọc để khôi phục và phát huy những cảm giác tinh tế liên quan tới âm thanh bằng ngôn ngữ và âm điệu, giọng điệu của người đọc…”. [6; 32] Qua đây, có thể thấy rất nhiều các quan điểm được đưa ra về hành động đọc. Dù đưa ra nhiều quan điểm nhưng tựu chung các nhà nghiên cứu đều chỉ ra mục đích của việc đọc chính là để nắm bắt được thông tin cũng như ý nghĩa của văn bản, qua đó đọc để vận dụng thông tin, ý nghĩa của văn bản vào đời sống.
Tức là, đọc để học hỏi, đọc để có kiến thức làm chủ cuộc sống của bản thân. Đọc hiểu giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành năng lực giao tiếp cho HS. Nhờ việc biết cách đọc hiểu mà HS có khả năng tự mở rộng năng lực của bản thân qua việc tự học, tự bồi dưỡng kiến thức. Giúp HS tự mình chiếm lĩnh được văn bản, biết tiếp nhận và xử lí thông tin.
Do vậy, đọc hiểu giữ một vị thế quan trọng trong quá trình dạy học. Rand Reading Study Group đưa ra quan điểm đọc hiểu là “quá trình xảy ra đồng thời việc trích lọc và xây dựng ý nghĩa cho VB thông qua sự 13 tương tác với VB viết. Nó bao gồm ba yếu tố: người đọc, VB và hành động đọc hoặc mục đích đọc”. [12] Chương trình PISA (2012) thì cho rằng “đọc hiểu là sự hiểu biết, sử dụng và phản hồi lại trước một VB viết nhằm đạt được mục đích phát triển tri thức và tiềm năng”.
[39] Nhà nghiên cứu Frank Smith (2004) cho rằng nghĩa gốc của thuật ngữ “đọc” (reading) là giải thích, hiểu (interpretation) được dùng để chỉ tất cả những hành động của chúng ta nhằm để hiểu, kiến tạo nghĩa cho những gì chúng ta thấy, những gì diễn ra xung quanh chúng ta.Như vậy,…đọc hiểu là việc kiến tạo nghĩa lại dựa trên việc chúng ta liên hệ tình huống mới với những gì chúng ta đã biết (relating the situation you are in to everything you know already). [ 34; 13] Trong Dạy học đọc hiểu ở tiểu học, tác giả Nguyễn Thị Hạnh nêu lên: “Bản chất của đọc hiểu là hoạt động giao tiếp, ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết tình cảm hoặc hành vi của chính mình”, còn “Bản chất của việc dạy học đọc hiểu là dạy một kĩ năng học tập”. [2; 9] Tác giả Đỗ Ngọc Thống cho rằng đọc hiểu văn bản “là toàn bộ quá trình tiếp xúc trực tiếp với văn bản (gồm cả quá trình cảm thụ kí hiệu vật chất và nhận ra ý nghĩa của những kí hiệu đó); Là quá trình nhận thức, quá trình tư duy (tiếp nhận, phân tích, lí giải ý nghĩa của văn bản, phát hiện ra ý nghĩa không có sẵn giữa các dòng văn, đọc ra những biểu tượng, ẩn ý của văn bản và diễn đạt lại bằng lời của người đọc, kiến tạo ý nghĩa văn bản); Là quá trình phản hồi, sử dụng văn bản”. [17; 9] Tác giả Nguyễn Thanh Hùng chỉ ra: “Bản chất của hoạt động đọc hiểu văn là quá trình lao động sáng tạo mang tính thẩm mĩ nhằm phát hiện ra những giá trị của tác phẩm trên cơ sở phân tích đặc trưng văn bản”.
[5; 24] 14 Với nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu nêu trên, có thể thấy đọc hiểu là quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh, liên tưởng, ghi nhớ và suy luận diễn ra liên tục để nhằm chiếm lĩnh giá trị của văn bản. Đọc hiểu là hoạt động có mục đích nhất định, tác động vào đối tượng để nhận thức và cải tạo bản thân. Năng lực đọc thẩm mĩ 1. Khái niệm đọc thẩm mĩ Từ thẩm mĩ có nguồn gốc từ mĩ học Latinh hiện đại, và sau đó là từ tiếng Hy Lạp (aisthētikós) có nghĩa là “nhận thức hoặc khả năng cảm nhận” thông qua các giác quan.
Trong Từ điển Tiếng Việt, thẩm mĩ (Aesthetic) nghĩa là cái đẹp và khả năng cảm thụ cái đẹp [15]. Đó là sự thẩm định, hiểu biết và đánh giá của con người trước mỗi sự vật, hiện tượng. Theo tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân: “Thẩm mĩ là khái niệm thuộc phạm trù mĩ học, liên quan đến sự cảm nhận và thể hiện bản chất của cái đẹp, của nghệ thuật và gắn với tình cảm, cảm xúc của con người” mà qua đó “Cảm xúc thẩm mĩ bộc lộ toàn bộ thế giới tâm hồn cũng như cá tính và những trải nghiệm của một con người, biểu hiện những rung động của chủ thể thẩm mĩ trước đối tượng thẩm mĩ” [26; 48]. Từ quan điểm của tác giả, có thể thấy thẩm mĩ tức là nói về sự nhận thức, cảm xúc của mỗi cá nhân trước các sự vật, hiện tượng trong đời sống.
Đồng thời thể hiện những xúc cảm, rung động của con người với hiện tượng thẩm mĩ đó trong cả thế giới tự nhiên lẫn đời sống nghệ thuật. Với các quan điểm nêu trên về thẩm mĩ, có thể thấy thẩm mĩ trước hết chính là khả năng cảm nhận của mỗi người về cái đẹp. Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi cho rằng cái đẹp trong thẩm mĩ sẽ bao hàm cả quan niệm về niềm vui, nỗi buồn, cái bi, cái hài, sự cao cả, sự thấp hèn, tốt, xấu, thiện, ác,…mà ở đó chứa đựng tình cảm, cảm xúc, rung động ở tâm hồn của mỗi con người. 15 Đọc thẩm mĩ (Aesthetic reading) theo quan điểm của nhà nghiên cứu L.
Rosenblatt: “Đọc thẩm mĩ là một quá trình chủ động, người đọc tập trung suy nghĩ và chia sẻ cảm nhận của cá nhân với từng tác phẩm văn học. Để tạo ra trải nghiệm sống, người đọc phải chú ý thể hiện cảm xúc, thái độ, ý tưởng, tình huống, tính cách và tình cảm. Sự kết nối và trải nghiệm này là bản chất của đọc thẩm mĩ.