Phát triển năng lực đọc thẩm mĩ cho HS lớp 7 (Cánh Diều) - Luận văn Thạc sĩ

Phát triển năng lực đọc thẩm mĩ cho học sinh lớp 7 qua dạy đọc hiểu truyện trong bộ sách Cánh Diều. Phương pháp và kinh nghiệm thực tiễn.

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

165
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3. Mục đích nghiên cứu

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

6. Phương pháp nghiên cứu

7. Những đóng góp của đề tài

8. Cấu trúc luận văn

1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Năng lực đọc hiểu

1.2. Năng lực đọc thẩm mĩ

1.2.1. Khái niệm đọc thẩm mĩ

1.2.2. Sự khác nhau giữa đọc thẩm mĩ và đọc trừu xuất

1.2.3. Vai trò và ý nghĩa của đọc thẩm mĩ

1.3. Đặc điểm của văn bản truyện

1.3.1. Quan niệm về truyện

1.3.2. Đặc trưng của truyện

1.3.3. Phân loại truyện

1.4. Yêu cầu của chương trình môn Ngữ văn 2018 về đọc hiểu truyện đối với học sinh lớp 7

1.5. Đặc điểm của các văn bản truyện trong sách giáo khoa lớp 7 bộ Cánh Diều

1.6. Phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản truyện

1.7. Thực trạng dạy đọc thẩm mĩ cho HS lớp 7 trong dạy học đọc hiểu truyện

2. BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC THẨM MĨ CHO HỌC SINH LỚP 7 TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN

2.1. Mục tiêu dạy học

2.2. Nguyên tắc đề xuất biện pháp

2.2.1. Đảm bảo đáp ứng mục tiêu dạy học

2.2.2. Bám sát các yêu cầu về đọc hiểu văn bản truyện

2.2.3. Tập trung vào phát triển năng lực đọc thẩm mĩ

2.2.4. Đảm bảo tính khả thi

2.2.5. Đảm bảo tính vừa sức

2.2.6. Tích cực hóa năng lực của học sinh

2.3. Đề xuất các biện pháp phát triển năng lực đọc thẩm mĩ cho học sinh lớp 7 trong dạy học đọc hiểu văn bản truyện

2.4. Thiết kế các nhiệm vụ đọc thẩm mĩ cho học sinh ở giai đoạn trước, trong và sau khi đọc

2.4.1. Sử dụng câu hỏi kết nối ở giai đoạn trước khi đọc của học sinh

2.4.2. Vận dụng lí thuyết hồi ứng thâm nhập ở giai đoạn trong và sau khi đọc của học sinh

2.4.2.1. Phát triển khả năng liên tưởng, tưởng tượng của học sinh

2.5. Chiến thuật 1: Tổng quan về văn bản

2.6. Chiến thuật 2: Cuộc giao tiếp văn học

2.7. Chiến thuật 3: Câu hỏi kết nối tổng hợp

2.8. Chiến thuật 4: Mối quan hệ hỏi đáp

2.9. Chiến thuật 5: Đọc suy luận

2.10. Chú trọng hoạt động trải nghiệm trong khi đọc

2.11. Chiến thuật 1: Đánh dấu và ghi chú bên lề

2.12. Chiến thuật 2: Cộng tác ghi chú

2.13. Chiến thuật 3: Mối quan hệ nhận thức và siêu nhận thức

2.14. Chiến thuật 4: Cuốn phim trí óc

2.15. Quy trình dạy học phát triển năng lực đọc thẩm mĩ cho học sinh lớp 7 trong dạy học đọc hiểu văn bản truyện

2.15.1. Trước khi dạy

2.15.1.1. Bước 1: Hướng dẫn HS đọc văn bản và chuẩn bị
2.15.1.2. Bước 2: Khởi động, tạo tâm thế trước khi đọc hiểu

2.15.2. Trong khi dạy

2.15.2.1. Bước 3: Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến văn bản truyện
2.15.2.2. Bước 4: Đọc, khám phá tri thức và bộc lộ cảm xúc của bản thân
2.15.2.3. Bước 5: Luyện tập củng cố, vận dụng

2.15.3. Sau khi dạy

2.15.3.1. Bước 6: Mở rộng kiến thức và sáng tạo

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm

3.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm

3.3. Cách thức thực nghiệm

3.4. Thiết kế giáo án thực nghiệm

3.5. Kết quả thực nghiệm

3.6. Đánh giá kết quả thực nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan về Phát Triển Năng Lực Đọc Thẩm Mĩ Lớp 7

Việc phát triển năng lực đọc ở học sinh, đặc biệt là năng lực đọc thẩm mĩ là vô cùng quan trọng trong chương trình Ngữ văn 7 Cánh Diều. Điều này giúp học sinh không chỉ hiểu nội dung văn bản mà còn cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn ngữ, hình ảnh và thông điệp mà tác giả muốn truyền tải. Theo Giáo sư Louise M. Rosenblatt, đọc thẩm mĩ chú trọng đến cảm xúc, thái độ và ý tưởng của người đọc trong quá trình đọc, từ đó bồi đắp tâm hồn và nhân cách. Chương trình Cánh Diều nhấn mạnh việc phát triển toàn diện các kĩ năng, trong đó có kĩ năng đọc hiểu và cảm thụ văn học. Luận văn này tập trung vào việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm nâng cao năng lực đọc thẩm mĩ cho học sinh lớp 7 thông qua việc đọc hiểu văn bản truyện. Sự khác biệt giữa đọc thẩm mĩ và đọc trừu xuất sẽ được phân tích, cùng với vai trò và ý nghĩa của đọc thẩm mĩ trong việc hình thành nhân cách và tình cảm của học sinh.

1.1. Tầm Quan Trọng của Đọc Thẩm Mĩ trong Ngữ Văn 7

Đọc thẩm mĩ không chỉ là việc đọc hiểu thông tin mà còn là sự trải nghiệm, cảm nhận và suy ngẫm về tác phẩm. Nó giúp học sinh cảm thụ văn học, khám phá những giá trị nhân văn sâu sắc. Đây là một phần quan trọng trong việc bồi dưỡng năng lực văn học cho học sinh. Ngữ văn 7 Cánh Diều tạo cơ hội cho học sinh tiếp xúc với nhiều thể loại văn học khác nhau, từ đó phát triển khả năng phân tích tác phẩm văn học và đánh giá giá trị của chúng.

1.2. Mối Liên Hệ Giữa Đọc Thẩm Mĩ và Chương Trình Cánh Diều

Chương trình Cánh Diều chú trọng đến việc phát triển năng lực toàn diện cho học sinh, trong đó có năng lực ngôn ngữ và văn học. Đọc thẩm mĩ đóng vai trò then chốt trong việc đạt được mục tiêu này. Thông qua việc rèn luyện kĩ năng đọc, học sinh có thể tự mình khám phá thế giới văn học, từ đó bồi dưỡng tình yêu văn chương và năng lực văn học.

II. Thách Thức trong Phát Triển Đọc Thẩm Mĩ Lớp 7 Cánh Diều

Mặc dù tầm quan trọng của đọc thẩm mĩ là không thể phủ nhận, nhưng việc phát triển năng lực này cho học sinh lớp 7 vẫn còn gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề chính là sự tập trung quá nhiều vào việc đọc hiểu thông thường, bỏ qua việc cảm thụ văn họcbồi dưỡng văn học. Bên cạnh đó, phương pháp dạy học truyền thống đôi khi còn khô khan, thiếu tính sáng tạo, khiến học sinh cảm thấy nhàm chán và không hứng thú với việc đọc. Theo khảo sát, nhiều giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc thiết kế các hoạt động thực hành đọc hiểubài tập đọc hiểu phù hợp để phát triển năng lực đọc thẩm mĩ cho học sinh.

2.1. Thiếu Hụt Phương Pháp Giảng Dạy Đọc Thẩm Mĩ Hiệu Quả

Nhiều giáo viên chưa có đủ kinh nghiệm và kiến thức về các phương pháp giảng dạy đọc thẩm mĩ hiệu quả. Do đó, họ thường chỉ tập trung vào việc giải thích nội dung văn bản mà bỏ qua việc khuyến khích học sinh cảm nhận và suy ngẫm về tác phẩm. Cần có các khóa tập huấn và bồi dưỡng chuyên môn để nâng cao năng lực cho giáo viên trong lĩnh vực này.

2.2. Áp Lực Từ Chương Trình và Thi Cử Ảnh Hưởng Đọc Hiểu

Áp lực từ chương trình học và các kì thi cũng là một thách thức lớn. Giáo viên thường phải chạy theo tiến độ và tập trung vào những kiến thức trọng tâm để đáp ứng yêu cầu của kì thi, ít có thời gian để bồi dưỡng văn họcrèn luyện kĩ năng đọc sâu sắc cho học sinh. Cần có sự điều chỉnh về chương trình và phương pháp đánh giá để tạo điều kiện cho việc phát triển năng lực đọc thẩm mĩ.

III. Giải Pháp Nhiệm Vụ Đọc Thẩm Mĩ Hiệu Quả Cho Lớp 7

Để giải quyết những thách thức trên, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Một trong những giải pháp quan trọng là thiết kế các nhiệm vụ đọc thẩm mĩ phù hợp với đặc điểm tâm lý và trình độ của học sinh lớp 7. Các nhiệm vụ này cần phải đa dạng, sáng tạo và khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình đọc. Theo đó, cần có sự kết hợp giữa các hoạt động trước khi đọc, trong khi đọcsau khi đọc để tạo nên một quy trình đọc hiểu hoàn chỉnh. Ngoài ra, việc sử dụng các câu hỏi gợi mở và phương pháp hồi ứng thâm nhập cũng rất quan trọng để khơi gợi cảm xúc và suy nghĩ của học sinh.

3.1. Thiết Kế Nhiệm Vụ Đọc Thẩm Mĩ Trước Trong và Sau Khi Đọc

Ở giai đoạn trước khi đọc, cần sử dụng các câu hỏi kết nối để kích thích sự tò mò và hứng thú của học sinh. Trong khi đọc, cần khuyến khích học sinh liên tưởng, tưởng tượng và trải nghiệm cảm xúc cùng nhân vật. Sau khi đọc, cần tạo cơ hội cho học sinh chia sẻ cảm nhận, suy ngẫm và đánh giá tác phẩm.

3.2. Vận Dụng Lý Thuyết Hồi Ứng Thâm Nhập trong Dạy Đọc

Lý thuyết hồi ứng thâm nhập nhấn mạnh vai trò của người đọc trong việc tạo ra ý nghĩa cho văn bản. Giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh tự do diễn giải và chia sẻ cảm nhận của mình về tác phẩm, đồng thời khuyến khích học sinh liên hệ tác phẩm với kinh nghiệm cá nhân và cuộc sống xung quanh.

IV. Phương Pháp Liên Tưởng và Trải Nghiệm trong Đọc Thẩm Mĩ

Việc phát triển khả năng liên tưởng, tưởng tượngchú trọng hoạt động trải nghiệm là hai yếu tố quan trọng trong việc phát triển năng lực đọc thẩm mĩ. Khi học sinh có thể liên tưởng và tưởng tượng, các em sẽ dễ dàng hình dung ra thế giới trong tác phẩm và cảm nhận được cảm xúc của nhân vật. Bên cạnh đó, việc tham gia vào các hoạt động trải nghiệm như đóng vai, diễn kịch, vẽ tranh,... sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm và phát triển khả năng cảm thụ văn học.

4.1. Chiến Thuật Tổng Quan về Văn Bản Truyện Lớp 7

Chiến thuật này giúp học sinh nắm bắt được những thông tin cơ bản về văn bản, bao gồm tác giả, tác phẩm, bối cảnh, nhân vật,... Từ đó, học sinh có thể có cái nhìn tổng quan về tác phẩm trước khi đi vào chi tiết.

4.2. Tăng Cường Cuộc Giao Tiếp Văn Học và Đọc Suy Luận

Cuộc giao tiếp văn học là sự tương tác giữa người đọc và tác phẩm, trong đó người đọc chủ động đặt câu hỏi và tìm kiếm câu trả lời trong văn bản. Đọc suy luận là khả năng suy đoán và giải thích ý nghĩa của văn bản dựa trên những thông tin được cung cấp.

4.3. Tạo Mối Quan Hệ Hỏi Đáp và Kết Nối Tổng Hợp

Mối quan hệ hỏi đáp giúp học sinh đào sâu vào nội dung của văn bản và khám phá những ý nghĩa tiềm ẩn. Kết nối tổng hợp là khả năng liên kết các thông tin khác nhau trong văn bản để tạo ra một bức tranh toàn diện.

V. Thực Hành Đọc Thẩm Mĩ Ghi Chú và Cuốn Phim Trí Óc

Để giúp học sinh thực hành đọc hiểurèn luyện kĩ năng đọc, cần có những phương pháp cụ thể và dễ thực hiện. Một trong những phương pháp hiệu quả là đánh dấu và ghi chú bên lề, giúp học sinh tập trung vào những chi tiết quan trọng và ghi lại những suy nghĩ, cảm xúc của mình. Bên cạnh đó, việc cộng tác ghi chú và tạo ra cuốn phim trí óc cũng là những hoạt động thú vị và bổ ích, giúp học sinh hình dung ra thế giới trong tác phẩm và chia sẻ ý tưởng với bạn bè.

5.1. Chiến Thuật Đánh Dấu và Ghi Chú Bên Lề Văn Bản

Học sinh nên được hướng dẫn cách đánh dấu những chi tiết quan trọng, gạch chân những câu văn hay và ghi chú những suy nghĩ, cảm xúc của mình bên lề văn bản. Điều này giúp học sinh tập trung và ghi nhớ thông tin tốt hơn.

5.2. Khuyến Khích Cộng Tác Ghi Chú và Chia Sẻ Ý Tưởng

Học sinh nên được khuyến khích chia sẻ những ghi chú và suy nghĩ của mình với bạn bè. Điều này giúp học sinh học hỏi lẫn nhau và khám phá những góc nhìn mới về tác phẩm.

5.3. Tạo Cuốn Phim Trí Óc và Kết Nối Nhận Thức Siêu Nhận Thức

Học sinh nên được khuyến khích hình dung ra thế giới trong tác phẩm như một cuốn phim. Điều này giúp học sinh cảm nhận được cảm xúc của nhân vật và hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm. Mối quan hệ nhận thức và siêu nhận thức giúp học sinh hiểu rõ hơn về quá trình đọc và suy nghĩ của mình.

VI. Kết Luận và Tương Lai của Phát Triển Đọc Thẩm Mĩ

Việc phát triển năng lực đọc thẩm mĩ cho học sinh lớp 7 là một quá trình lâu dài và đòi hỏi sự nỗ lực của cả giáo viên và học sinh. Tuy nhiên, với những phương pháp và giải pháp phù hợp, chúng ta hoàn toàn có thể giúp học sinh cảm thụ văn học, khám phá vẻ đẹp của ngôn ngữ và bồi dưỡng tâm hồn. Trong tương lai, cần có những nghiên cứu sâu hơn về đọc thẩm mĩbồi dưỡng văn học, đồng thời xây dựng những chương trình đào tạo giáo viên chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của thời đại.

6.1. Tổng Kết Những Giải Pháp Nâng Cao Đọc Thẩm Mĩ

Các giải pháp bao gồm thiết kế nhiệm vụ đọc thẩm mĩ, vận dụng lý thuyết hồi ứng thâm nhập, phát triển khả năng liên tưởng và tưởng tượng, chú trọng hoạt động trải nghiệm, thực hành ghi chú và tạo cuốn phim trí óc.

6.2. Hướng Nghiên Cứu và Ứng Dụng trong Tương Lai

Cần có những nghiên cứu sâu hơn về đọc thẩm mĩbồi dưỡng văn học, đồng thời xây dựng những chương trình đào tạo giáo viên chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của thời đại. Ngoài ra, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội để tạo môi trường văn hóa đọc lành mạnh cho học sinh.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Năng lực đọc hiểu 1. Năng lực Năng lực (Competence) có nguồn gốc từ tiếng La-tinh, với nghĩa là gặp gỡ. Từ năng lực được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể tùy thuộc vào những lĩnh vực khác nhau với tình huống và ngữ cảnh riêng biệt như Ability, Aptitude, Capacity,… Và cũng như vây, trong tiếng Việt, từ năng lực gần nghĩa với những từ như tiềm năng, năng khiếu, tài năng,.Có thể thấy, năng lực là một vấn đề khá trừu tượng.

Rất nhiều các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra những quan điểm khác nhau.Leochiev, một nhà tâm lí học cho rằng: “NL là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”. [9; 31] Trong chương trình giáo dục Quécbec (Chương trình QDTH Quécbéc - Bộ giáo dục Canada - 2004): “NL là khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực, Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ phía nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS: những kỹ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn những nguồn lực bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy, cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn tin khác”. [24; 26] Theo Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn trong sách Tâm lý học đại cương (1998): “NL là tổng hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực ấy”. [19; 31] Cụ thể hơn, tác giả Đỗ Ngọc Thống chỉ rõ: “Năng lực (competence) là những kiến thức (knowledge), kĩ năng (skills) và các giá trị (values) được phản ánh trong những thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân”.

[17] 11 Còn trong Chương trình tổng thể 2018, năng lực được định nghĩa là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, … thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Như vậy, đến nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về NL. Từ những quan điểm và phân tích nêu trên, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát: NL là tổng hòa của tiềm năng, khả năng, kỹ năng, tài năng về mặt thể chất, tri thức, tâm lý sẵn có và được đào tạo để thực hiện công việc một cách có hiệu quả và chất lượng cao. Nói đến NL là phải nói tới khả năng thực hiện, nghĩa là phải biết làm chứ không chỉ biết hiểu.

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi đồng ý với cách hiểu về năng lực theo Chương trình tổng thể 2018. Đọc hiểu Đọc là một trong những kỹ năng cơ bản cần được rèn luyện cho HS cùng với các kỹ năng nghe, nói, viết. Bởi lẽ đọc chính là bước đầu tiên để tiếp cận tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, đọc cũng chính là một quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì đã đọc. UNESCO đưa ra: “Đọc là khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in ấn kết hợp với những bối cảnh khác nhau.

Nó đòi hỏi sự học hỏi liên tục cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng và tham gia một cách đầy đủ trong xã hội rộng lớn”.Lơvôp trong Sổ tay thuật ngữ phương pháp dạy học tiếng Nga cho rằng: “Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm)”. [33] 12 Nguyễn Trọng Hoàn nêu ý kiến: “Văn hóa đọc được phát triển trên nền tảng của truyền thống giáo dục gia đình, nhà trường, môi trường cộng đồng và gắn liền với nhu cầu tự học. Để vượt qua mức độ từ người đọc chăm chỉ trở thành người đọc thông minh, việc giáo dục ý thức học tập suốt đời và hình thành phương pháp, kĩ thuật đọc phù hợp vì thế có vai trò cực kì quan trọng”. [37] Trần Đình Sử (2013) cũng khẳng định đọc là quá trình “kiến tạo ý nghĩa, một quá trình đầy thử và sai, loại bỏ cái sai, dần dần xác lập cái đúng.

[16] Tác giả Nguyễn Thanh Hùng cho rằng: “Đọc là khái niệm có tính lịch sử, là biểu hiện sự tiến hóa ngôn ngữ của con người mang bản chất văn hóa, nhận thức bằng ngôn từ để giao tiếp và phát triển cá thể cùng xã hội. Đồng thời, đọc để khôi phục và phát huy những cảm giác tinh tế liên quan tới âm thanh bằng ngôn ngữ và âm điệu, giọng điệu của người đọc…”. [6; 32] Qua đây, có thể thấy rất nhiều các quan điểm được đưa ra về hành động đọc. Dù đưa ra nhiều quan điểm nhưng tựu chung các nhà nghiên cứu đều chỉ ra mục đích của việc đọc chính là để nắm bắt được thông tin cũng như ý nghĩa của văn bản, qua đó đọc để vận dụng thông tin, ý nghĩa của văn bản vào đời sống.

Tức là, đọc để học hỏi, đọc để có kiến thức làm chủ cuộc sống của bản thân. Đọc hiểu giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành năng lực giao tiếp cho HS. Nhờ việc biết cách đọc hiểu mà HS có khả năng tự mở rộng năng lực của bản thân qua việc tự học, tự bồi dưỡng kiến thức. Giúp HS tự mình chiếm lĩnh được văn bản, biết tiếp nhận và xử lí thông tin.

Do vậy, đọc hiểu giữ một vị thế quan trọng trong quá trình dạy học. Rand Reading Study Group đưa ra quan điểm đọc hiểu là “quá trình xảy ra đồng thời việc trích lọc và xây dựng ý nghĩa cho VB thông qua sự 13 tương tác với VB viết. Nó bao gồm ba yếu tố: người đọc, VB và hành động đọc hoặc mục đích đọc”. [12] Chương trình PISA (2012) thì cho rằng “đọc hiểu là sự hiểu biết, sử dụng và phản hồi lại trước một VB viết nhằm đạt được mục đích phát triển tri thức và tiềm năng”.

[39] Nhà nghiên cứu Frank Smith (2004) cho rằng nghĩa gốc của thuật ngữ “đọc” (reading) là giải thích, hiểu (interpretation) được dùng để chỉ tất cả những hành động của chúng ta nhằm để hiểu, kiến tạo nghĩa cho những gì chúng ta thấy, những gì diễn ra xung quanh chúng ta.Như vậy,…đọc hiểu là việc kiến tạo nghĩa lại dựa trên việc chúng ta liên hệ tình huống mới với những gì chúng ta đã biết (relating the situation you are in to everything you know already). [ 34; 13] Trong Dạy học đọc hiểu ở tiểu học, tác giả Nguyễn Thị Hạnh nêu lên: “Bản chất của đọc hiểu là hoạt động giao tiếp, ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết tình cảm hoặc hành vi của chính mình”, còn “Bản chất của việc dạy học đọc hiểu là dạy một kĩ năng học tập”. [2; 9] Tác giả Đỗ Ngọc Thống cho rằng đọc hiểu văn bản “là toàn bộ quá trình tiếp xúc trực tiếp với văn bản (gồm cả quá trình cảm thụ kí hiệu vật chất và nhận ra ý nghĩa của những kí hiệu đó); Là quá trình nhận thức, quá trình tư duy (tiếp nhận, phân tích, lí giải ý nghĩa của văn bản, phát hiện ra ý nghĩa không có sẵn giữa các dòng văn, đọc ra những biểu tượng, ẩn ý của văn bản và diễn đạt lại bằng lời của người đọc, kiến tạo ý nghĩa văn bản); Là quá trình phản hồi, sử dụng văn bản”. [17; 9] Tác giả Nguyễn Thanh Hùng chỉ ra: “Bản chất của hoạt động đọc hiểu văn là quá trình lao động sáng tạo mang tính thẩm mĩ nhằm phát hiện ra những giá trị của tác phẩm trên cơ sở phân tích đặc trưng văn bản”.

[5; 24] 14 Với nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu nêu trên, có thể thấy đọc hiểu là quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh, liên tưởng, ghi nhớ và suy luận diễn ra liên tục để nhằm chiếm lĩnh giá trị của văn bản. Đọc hiểu là hoạt động có mục đích nhất định, tác động vào đối tượng để nhận thức và cải tạo bản thân. Năng lực đọc thẩm mĩ 1. Khái niệm đọc thẩm mĩ Từ thẩm mĩ có nguồn gốc từ mĩ học Latinh hiện đại, và sau đó là từ tiếng Hy Lạp (aisthētikós) có nghĩa là “nhận thức hoặc khả năng cảm nhận” thông qua các giác quan.

Trong Từ điển Tiếng Việt, thẩm mĩ (Aesthetic) nghĩa là cái đẹp và khả năng cảm thụ cái đẹp [15]. Đó là sự thẩm định, hiểu biết và đánh giá của con người trước mỗi sự vật, hiện tượng. Theo tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân: “Thẩm mĩ là khái niệm thuộc phạm trù mĩ học, liên quan đến sự cảm nhận và thể hiện bản chất của cái đẹp, của nghệ thuật và gắn với tình cảm, cảm xúc của con người” mà qua đó “Cảm xúc thẩm mĩ bộc lộ toàn bộ thế giới tâm hồn cũng như cá tính và những trải nghiệm của một con người, biểu hiện những rung động của chủ thể thẩm mĩ trước đối tượng thẩm mĩ” [26; 48]. Từ quan điểm của tác giả, có thể thấy thẩm mĩ tức là nói về sự nhận thức, cảm xúc của mỗi cá nhân trước các sự vật, hiện tượng trong đời sống.

Đồng thời thể hiện những xúc cảm, rung động của con người với hiện tượng thẩm mĩ đó trong cả thế giới tự nhiên lẫn đời sống nghệ thuật. Với các quan điểm nêu trên về thẩm mĩ, có thể thấy thẩm mĩ trước hết chính là khả năng cảm nhận của mỗi người về cái đẹp. Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi cho rằng cái đẹp trong thẩm mĩ sẽ bao hàm cả quan niệm về niềm vui, nỗi buồn, cái bi, cái hài, sự cao cả, sự thấp hèn, tốt, xấu, thiện, ác,…mà ở đó chứa đựng tình cảm, cảm xúc, rung động ở tâm hồn của mỗi con người. 15 Đọc thẩm mĩ (Aesthetic reading) theo quan điểm của nhà nghiên cứu L.

Rosenblatt: “Đọc thẩm mĩ là một quá trình chủ động, người đọc tập trung suy nghĩ và chia sẻ cảm nhận của cá nhân với từng tác phẩm văn học. Để tạo ra trải nghiệm sống, người đọc phải chú ý thể hiện cảm xúc, thái độ, ý tưởng, tình huống, tính cách và tình cảm. Sự kết nối và trải nghiệm này là bản chất của đọc thẩm mĩ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ