Chương 1: Những lý luận cơ bản về phát triển mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giải trí Chương 2: Thực trạng phát triển mạng lưới kinh doanh của công ty TNHH Megastar giai đoạn 2009 - 2013 Chương 3: Quan điểm, định hướng và các giải pháp phát triển mạng lưới kinh doanh của Công ty TNHH Truyền thông Megastar 6 CHƢƠNG 1: Formatted: Font: 16 pt, Font color: Black Formatted: Centered, Level 1, Space After: LÝ LUẬN CHUNGNHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT 0 pt, Line spacing: Multiple 1.3 li, No widow/orphan control, Tab stops: 0.35", TRIỂN MẠNG LƢỚI KINH DOANH CỦA LĨNH VỰC KINH Left DOANDOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ GIẢI TRÍ 1. Đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giải trí Formatted: Font: 14 pt, Bold, Font color: Black 1. Khái niệm kinh doanh dịch vụ giải trí Dịch vụ giải trí là các hoạt động lao động mạng tính xã hội tạo ra các sản phẩm giải trí, các sản phẩm này không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn tới việc chuyển quyền sở hữu, nhằm mục đích thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả hơn các nhu cầu giải trí của con người, mang lại lợi ích tinh thần cho người sử dụng nó. Có thể lấy thí dụ về một số dịch vụ giải trí hiện nay như dịch vụ cho thuê máy chơi điện tử, xem phim chiếu rạp, nghe các ca sĩ nổi tiếng hát trực tiếp,… Kinh doanh dịch vụ giải trí là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư dịch vụ giải trí: từ sản xuất, cung ứng đến tiêu thụ dịch vụ giải trí trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Lấy ví dụ với một bộ phim điện ảnh thì kinh doanh dịch vụ giải trí trong trường hợp này sẽ được hiểu là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư: từ sản xuất bộ phim, thực hiện các công việc liên quan đến phát hành bộ phim và quảng bá tới khán giả, phục vụ khán giả tới rạp xem phim. Đặc điểm kinh doanh của lĩnh vực giải trí 1. Khai thác hiệu quả các yếu tố hữu hình trong quá trình cung ứng dịch vụ khi kinh doanh trong lĩnh vực giải trí Khi mua dịch vụ giải trí, mặc dù khách hàng có thể nhận được các yếu tố hữu hình là những tấm vé trong đó in biểu tượng của doanh nghiệp, tên sản phẩm, 7 những nội dung thỏa thuận, thông tin về dịch vụ… Nhưng khách hàng không chỉ ra được màu sắc, kích thước, hình dáng hay mùi vị của sản phẩm. Nói cách khác, sản phẩm dịch vụ giải trí là sản phẩm vô hình – người mua không thể cảm nhận thông qua các giác quan của mình.
Tính vô hình của dịch vụ giải trí làm cho việc giới thiệu, chào bán trở nên khó khăn hơn. Nếu đa số sản phẩm hữu hình có thể được trưng bày trong các cửa hàng, được vẽ trên các biển hiệu hay tờ rơi quảng cáo…,các sản phẩm này có tác dụng đến giác quan của khách hàng, mang đến cho khách “cảm giác vật chất” và khách hàng dễ dàng nhận được sự tồn tại của sản phẩm, thì với các sản phẩm vô hình, khách hàng khó thử dịch vụ trước khi mua, khó cảm nhận được chất lượng, khó lựa chọn dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ, khó quảng cáo về dịch vụ. Ví dụ, một người đi xem phim không thể biết trước được mức độ hay, hài lòng với bộ phim khi chưa xem. Do dịch vụ là vô hình nên khách hàng rất khó xác định được giá trị cũng như những ích lợi mà dịch vụ mang lại.
Người mua dịch vụ buộc phải tin người bán, vì thế để củng cố lòng tin của khách hàng với mình, người cung ứng dịch vụ cần khai thác một cách hiệu quả các giá trị hữu hình trong quá trình cung ứng dịch vụ thông qua việc thực hiện một loạt các biện pháp cụ thể như phác thảo kết quả đạt được khi sử dụng dịch vụ, cung cấp các lợi ích liên quan đến dịch vụ, coi trọng công tác tuyên truyền quảng cáo cho sản phẩm, xây dựng những mối quan hệ công chúng trong kinh doanh nhằm nâng cao thanh thế, uy tín và hình ảnh của nhà cung cấp dịch vụ, quan tâm đến việc xây dựng thương hiệu và văn hóa trong tổ chức. Quy mô cung ứng dịch vụ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực giải trí Với các hàng hóa hữu hình, sau khi mua hàng, khách hàng có thể sử dụng, tiêu dùng hàng hóa đó vào một lúc khác, ở một nơi khác mà không nhất thiết phải là tại nơi cung cấp. Tuy nhiên, trong kinh doanh dịch vụ giải trí thì khách hàng sẽ phải sử dụng dịch vụ tại môi trường và địa điểm mà doanh nghiệp tiến hành cung cấp dịch vụ. Điều này xuất phát từ tính không tách rời giữa việc cung cấp và tiêu dùng dịch vụ giải trí và việc người tiêu dùng luôn có xu hướng tìm đến những người cung 8 cấp các dịch vụ cá biệt.
Đối với sản phẩm hữu hình, hàng hóa thường được sản xuất tập trung tại một nơi rồi vận chuyển đến những nơi có nhu cầu. Khi ra khỏi dây chuyền sản xuất thì hàng hóa đã hoàn chỉnh, có thể tiêu dùng vào bất cứ lúc nào, do đó, nhà sản xuất có thể đạt được tính kinh tế theo quy mô do sản xuất tập trung, hàng loạt và quản lý chất lượng sản phẩm tập trung. Nhà sản xuất cũng có thể sản xuất khi nào thuận tiện, rồi cất trữ vào kho và đem bán khi có khách hàng có nhu cầu. Do vậy, người sản xuất và kinh doanh có thể dễ dàng thực hiện việc cân đối cung cầu.
Trong khi đó, với lĩnh vực giải trí, người cung cấp dịch vụ và khách hàng phải tiếp xúc với nhau để cung cấp và tiêu dùng dịch vụ tại các địa điểm, môi trường và thời gian phù hợp cho cả hai bên. Thậm chí, đối với một số các dịch vụ, khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ, vì thế khách hàng sẽ sử dụng dịch vụ tại môi trường và địa điểm mà doanh nghiệp tiến hành cung cấp dịch vụ giải trí. Nếu xây dựng được quy mô cung ứng phù hợp, doanh nghiệp sẽ tối đa hóa được lợi nhuận cho mỗi lần cung ứng dịch vụ giải trí tới khách hàng. Chẳng hạn như khi tổ chức một chương trình ca nhạc mang tính thương mại, nếu dự đoán được số khán giả sẵn sàng chi trả một khoản tiền để mua vé xem chương trình đó để lên kế hoạch về doanh thu và chi phí sẽ giúp doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực giải trí tối ưu hóa được lợi nhuận của mình.
Kinh doanh dịch vụ giải trí không có bộ tiêu chuẩn đánh giá cụ thể Do đặc điểm của dịch vụ giải trí có tính vô hình nên không đo lường xác định được đầu ra, bên cạnh đó, dịch vụ giải trí không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hóa nên các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực giải trí sẽ khó kiểm tra chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất. Mặt khác, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ lại chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của người cung cấp dịch vụ cũng như thời điểm cung cấp dịch vụ. Chẳng hạn như sức khỏe, sự nhiệt tình của nhân viên cung cấp dịch vụ vào buổi sáng và buổi chiều có thể khác nhau. Do vậy, khó có thể đạt được sự đồng đều về chất lượng dịch vụ ngay trong một ngày.
Dịch vụ giải trí càng đa dạng, sử dụng nhiều lao động, người phục vụ thì càng khó đảm bảo tính đồng đều về chất lượng. Chất lượng của 9 dịch vụ dao động trong một biên độ rộng, tùy thuộc vào bên cung cấp dịch vụ cũng như thời gian, địa điểm việc cung cấp diễn ra. Trong lĩnh vực giải trí, mỗi ca sĩ khác nhau có chất giọng khác nhau, lối diễn xuất, vẻ bề ngoài khác nhau khiến cho chất lượng của những buổi biểu diễn khác nhau. Tương tự, mỗi bộ phim có kịch bản khác nhau, nhân vật khác nhau, bối cảnh khác nhau dẫn đến cảm nhận của người xem về mức độ hay của bộ phim là không giống nhau.
Kinh doanh dịch vụ giải trí có tính thời điểm, thời vụ Do nhu cầu đối với dịch vụ giải trí tập trung vào một số thời điểm nhất định, nhu cầu hàng ngày thì nhu cầu giải trí cao nhất thường là buổi tối, trong khoảng thời gian hàng tuần thì nhu cầu giải trí cao nhất thường là cuối tuần, còn với khoảng thời gian hàng năm thì nhu cầu giải trí cao nhất thường là những dịp nghỉ lễ. Bên cạnh đó, dịch vụ giải trí còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như thời gian rảnh rỗi do đặc điểm nghề nghiệp, do sở thích, thị hiếu, tập quán tiêu dùng dịch vụ, do thời tiết, khí hậu,… Chính vì vậy, hoạt động kinh doanh giải trí có tính thời điểm, thời vụ, có những thời điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ giải trí đình trệ, có những lúc lại rất bận rộn. Thời điểm và thời vụ của mỗi loại hình kinh doanh dịch vụ giải trí lại khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm và tính chất của loại hình dịch vụ giải trí mà doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường. Kinh doanh dịch vụ giải trí có tính linh hoạt cao Do nhu cầu đối với dịch vụ giải trí có thể thay đổi nhanh chóng theo thời gian, dịch vụ giải trí này bị thay thế bởi dịch vụ giải trí khác, đặc biệt là khi không được đáp ứng ngay.
Ví dụ như buổi tối cuối tuần, một gia đình dự định đi chơi bowling để giải trí, nhưng khi đến nơi thì không còn chỗ, họ có thể tìm ngay một dịch vụ giải trí khác như xem phim để thay thế. Lý do kinh doanh dịch vụ giải trí có tính linh hoạt cao vì dịch vụ không có hình thù, kiểu dáng rõ ràng, cụ thể, riêng biệt và không dự trữ được nên dễ bị tác động bởi các yếu tố khách quan – hay chính là tính dễ thay đổi, tính linh hoạt. Xu hướng phát triển kinh doanh lĩnh vực giải trí ở Việt Nam Dịch vụ giải trí đã xuất hiện tại Việt Nam từ những năm 30 của thế kỷ trước. 10 Khi đó, dịch vụ giải trí chỉ đơn giản là các trò chơi dân gian, các nhóm hát dân ca hoặc các nhóm biểu diễn múa võ và chủ yếu phục vụ tầng lớp quan lại, chức sắc.
Từ năm 1930 đến năm 1986, các dịch vụ giải trí bắt đầu có bước phát triển mạnh mẽ hơn.