Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về KTTN và phát triển KTTN. Chương 3: Kết quả nghiên cứu về thực trạng phát triển KTTN vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2005-2020. Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển KTTN vùng ĐNB giai đoạn 2021- 2030. Kết luận, danh mục các công trình của tác giả liên quan đến luận án, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục.
12 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án. Tổng quan các nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án Phát triển KTTN ở Việt Nam một trong những vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhiều nhà khoa học quan tâm. Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập về tính tất yếu khách quan tồn tại của KTTN; vai trò, vị trí, những giải pháp phát triển KTTN trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước.
Trong nghiên cứu này, có thể phân chia các tài liệu liên quan đến vấn đề KTTN ở Việt Nam theo các nhóm sau đây: 1. Về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân Hiện nay Việt Nam đã phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó KTTN là “Động lực” thúc đẩy các thành phần kinh tế khác (ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐBTQ, 2016); quyền tự do kinh doanh của con người được tôn trọng đúng theo quy định của điều 57 Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (Mai Hồng Quỳ, 2012), Điều 33 Hiến Pháp 2013. Luật Doanh nghiệp ra đời vào năm 1999 và có hiệu lực năm 2001 đã làm gia tăng số lượng DN khu vực KTTN, điều đó có nghĩa làm gia tăng vốn đầu tư xã hội cho một quốc gia, góp phần giải quyết các vấn đề cho xã hội như: giải quyết công ăn việc làm cho người lao động; tăng thu ngân sách; gia tăng sản lượng hàng hoá; tăng GDP.làm cho bộ mặt kinh tế của Việt Nam ngày càng có nhiều chuyển biến tích cực trong quá trình phát triển và hội nhập với kinh tế thế giới. Hiện nay nước ta đang đi vào giai đoạn phát triển mạnh sau “Đổi mới”, từ một quốc gia kém phát triển đã vươn mình mạnh mẽ trong nhóm các quốc gia đang phát triển, cố gắng phấn đấu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Để thực hiện được điều đó, ngoài việc hoàn thiện các chính sách pháp luật, các yếu tố về thể chế và các yếu tố khác cần phải xem trọng sự đóng góp của các thành phần kinh tế trong xã hội, đặc biệt là thành phần KTTN. Cho nên khi bàn đến vai trò của thành phần KTTN (Nguyễn Thanh Tuyền, 2002) đã cho rằng KTTN đã có đóng góp rất to 13 lớn vào nền kinh tế, mà cụ thể là: KTTN đóng góp nguồn lực vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng; thúc đẩy quan hệ quốc tế. Tuy vậy trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, KTTN vẫn còn đó rất nhiều khó khăn, một trong những rào cản phát triển đó là các yếu tố trong lĩnh vực pháp luật. Do đó việc xây dựng một hành lang pháp lý hay “Luật hoá” các quy định, các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp khu vực kinh tế này là hết sức cần thiết và cần phải thực hiện ngay: đó là việc cần thiết phải xây dựng các đạo luật trên nhiều mặt trận, cả kinh tế, xã hội để phát triển KTTN.
Khi đề cập đến vấn đề này (Nguyễn Thanh Bình, 2003) cho rằng xây dựng các đạo luật cần phải dựa trên các nguyên lý khoa học về pháp luật; rà soát và loại bỏ các quy định không còn phù hợp với thực tiễn. Khi bàn về kinh tế tư nhân, Nguyễn Thanh Tuyền & Đào Duy Huân (2000) cho rằng để phát triển kinh tế và hoàn thành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cần nghiên cứu, học hỏi các mô hình phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới mà đặc biệt là các quốc gia khu vực Đông Nam Á vì trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế ít nhiều chúng ta vẫn còn quanh quẩn với những thói quen xưa cũ hay loanh quanh với cái bóng của quá khứ mà chúng ta quen gọi là truyền thống, còn mang nặng dấu ấn của sản xuất nông nghiệp, các lề thói lạc hậu, kinh doanh theo hướng có lợi trước mắt, không định hướng trong dài hạn, hay quá nhấn mạnh đến tính lợi ích cá nhân nên thường rơi vào việc vi phạm pháp luật (Phạm Văn Boong, 2003). Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về pháp luật kinh tế và lý luận về sở hữu (Nguyễn Văn Thức, 2004) và (Nguyễn Xuân Khoát, 2010) đã chỉ ra rằng rường cột của pháp luật kinh tế là pháp luật về sở hữu, pháp luật về hợp đồng và pháp luật về công ty mà trong đó pháp luật về sở hữu tư nhân là yếu tố tác động tích cực lên động lực kinh doanh của các chủ doanh nghiệp khu vực KTTN. Có thể thấy sau 35 năm xây dựng và đổi mới để phát triển kinh tế, Việt Nam đã có những bước tiến rất mạnh mẽ, đó là thành quả đạt được của một quá trình chuyển mình dưới các chính sách của Đảng và Nhà nước.
Trong một nghiên cứu cụ thể, Đậu Anh Tuấn, Lê Duy Bình, Phạm Ngọc Thạch (2011) đưa ra những số liệu 14 rõ ràng về sự thành công bằng các chỉ số cụ thể: Tổng sản phẩm xã hội (GDP) gia tăng không ngừng qua các năm; tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao; các khu vực kinh tế khác nhau như KTNN, KTTN, kinh tế đầu tư nước ngoài (KTĐTNN) có sự tăng trưởng cao và đồng đều nhau. Tuy vậy khi nghiên cứu về tính hiệu quả và các thành tựu mà KTTN đạt được hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng, để đo lường chất lượng và hiệu quả đầu tư của khu vực kinh tế này cần dựa trên nhiều tiêu chí và chỉ tiêu khác nhau trong đó các tiêu chí về hiệu quả sử dụng vốn; năng lực, trình độ công nghệ; năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực của khu vực kinh tế này. Dựa trên các tiêu chí đó Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), Tổng cục Thống kê (GSO), Nhóm Nghiên cứu Kinh tế phát triển (DERG), Trường Đại học Copenhagen (UoC) đã thực hiện nghiên cứu Năng lực cạnh tranh và công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam và tóm tắt các lý do về việc cần cải thiện công nghệ trong việc phát triển sản xuất. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc tổ chức nhập khẩu công nghệ có tỷ lệ không cân đối giữa các khu vực kinh tế, trong đó 86% các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nhận được sự hỗ trợ cho nghiên cứu và phát triển trong khi các DN không có vốn Nhà nước không hề nhận được sự hỗ trợ này.
Ngoài các khó khăn về vốn, công nghệ, đất đai.các DN khu vực KTTN còn gặp các khó khăn khác như là việc tiếp cận với các tài sản công hay dịch vụ công., tuy các khó khăn vẫn còn đó nhưng nghiên cứu trên đã kết luận rằng sự đóng góp của KTTN vào nguồn thu nhà nước là rất cao (40% vốn đầu tư xã hội) nhưng rõ ràng vẫn còn đó tình trạng phân biệt, đối xử giữa các DNNN với DN khu vực KTTN; DN khu vực tư nhân trong nước với DN có vốn nước ngoài (Lê Duy Bình, 2018). Vì vậy cần thiết phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho DN khu vực KTTN phát triển, đó là hoàn thiện chính sách pháp luật; hoàn thiện cơ chế chính sách để các DN khu vực KTTN tiếp cận các nguồn lực công; cải cách thủ tục hành chính; nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ và cải thiện MTKD (Ngô Trang, 2015). Các nghiên cứu về môi trường kinh doanh Lê Danh Vĩnh (2009) khi bàn về MTKD đã lược trích các đánh giá của Đại học Harvard (HU) & Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) về môi trường kinh doanh của 15 Việt Nam và cho rằng có ba (03) vấn đề chính cần cải thiện MTKD ở Việt Nam đó là: (i) các vấn đề về khởi sự DN, (ii) giảm (hạn chế) các loại giấy phép con và (iii) tạo điều kiện cho DN tiếp cận dễ dàng hơn với các nguồn tín dụng. Từ các tiếp cận này tác giả cũng đã gợi ý các giải pháp cụ thể về cải thiện MTKD ở Việt Nam đó là: Cần tăng cường thể chế bảo vệ nhà đầu tư; tích cực cải thiện thể chế môi trường thuế; đẩy nhanh việc xử lý giải thể DN; cải thiện thể chế môi trường kinh doanh, khuyến khích sự gia nhập thị trường của các loại hình DN; đơn giản hóa và minh bạch các thủ tục cấp phép; cải thiện thể chế tuyển dụng và sa thải.
Trong một nghiên cứu khác, Stoyan Tenev, Amanda Carlier, Omar Chaudry, Nguyễn Quỳnh Trang (2003) cho rằng các DN khu vực KTTN cần môi trường để phát triển, những quy định trái với logic của các thông lệ kinh doanh trên thị trường không tạo cơ hội để các DN tạo lập quan hệ hợp đồng, hoặc kiềm chế không để họ thành công trên thị trường và sẽ bị các DN né tránh bằng mọi giá. Ngược lại, các quy định luật pháp phù hợp với các lực lượng thị trường sẽ dễ dàng thực thi hơn và sẽ được hỗ trợ bởi chính các thị trường mà nó bảo vệ. Nghiên cứu cũng cho rằng chỉ thay đổi các quy định pháp luật phù hợp với nhu cầu thị trường là chưa đủ và theo nhóm tác giả, những động lực trong bộ máy hành chính phải phù hợp với sự phát triển. Một Chính phủ cam kết đẩy mạnh quá trình phát triển khu vực KTTN sẽ thấy được những lợi ích đáng kể từ việc hỗ trợ sự tăng trưởng của khu vực này.
Ngoài ra, các báo cáo hàng năm về PCI ở Việt Nam trình bày cơ sở khoa học và thực tiễn của việc hình thành chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh, cũng như cập nhật chỉ số này qua các năm.