phần mở đầu, nội dung, kết luận và kiến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung chính đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vẫn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế tƣ nhân và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 2: Thực trạng phát triển kinh tế tƣ nhân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Chƣơng 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển của kinh tế tƣ nhân ở Thái Nguyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƢ NHÂN 1.1 Kinh tế tư nhân Kinh tế tƣ nhân là một tổ chức kinh tế ngoài nhà nƣớc, quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp này thuộc về một cá nhân hay một nhóm ngƣời góp vốn sản xuất kinh doanh đƣợc đăng ký và hoạt động theo luật định. Kinh tế tƣ nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu thủ và kinh tế tƣ bản tƣ nhân, hoạt động dƣới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tƣ nhân [10]. Trong khuôn khổ pháp luật doanh nghiệp của tƣ nhân có quyền tự do và chủ động hoạt động kinh doanh (trừ một số ngành nghề mà pháp luật cấm kinh doanh) và tự chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Quyền sở hữu về tƣ liệu sản xuất, quyền thừa kế vốn, tài sản các quyền và lợi ích hợp pháp khác của chủ doanh nghiệp tƣ nhân, các thành viên công ty đƣợc nhà nƣớc bảo hộ theo pháp luật.2 Khái niệm về các loại hình doanh nghiệp của tư nhân So với các nƣớc trên thế giới và khu vực, doanh nghiệp của tƣ nhân ở nƣớc ta ra đời muộn, tuy nhiên nó chứa đựng sự phong phú, đa dạng và chủ yếu ở các loại hình cơ bản: Doanh nghiệp tƣ nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh.
- Doanh nghiệp tƣ nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ tự chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [16]. - Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ của công ty đƣợc chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần của mình cho ngƣời khác (trừ trƣờng hợp cổ đông sở hữu cổ phần ƣu đãi biểu quyết) cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lƣợng cổ đông tối thiểu là 03 (ba) và không hạn chế số lƣợng tối đa [16]. - Công ty TNHH, có công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty TNHH có 02 thành viên trở lên.
+ Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu công ty. Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp. Chủ sở hữu có quyền chuyển nhƣợng một phần hay toàn số vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác [16]. + Công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đóng góp vào doanh nghiệp.
Việc chuyển nhƣợng một phần hay toàn bộ phần vốn góp phải chào bán phần vốn góp đó cho tất cả các thành viên còn lại theo tỷ lệ tƣơng ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với điều kiện: Chỉ đƣợc chuyển phần vốn góp cho ngƣời không phải là thành viên công ty nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc mua không hết. Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lƣợng thành viên không vƣợt quá 50% [16]. - Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất 02 thành viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty [16].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 Trong các loại hình doanh nghiệp của tƣ nhân, thì công ty hợp danh ra đời muộn hơn, mới đƣợc nhà nƣớc thừa nhận từ năm 2000. Doanh nghiệp tƣ nhân nông nghiệp là loại hình doanh nghiệp tƣ nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp có đặc điểm đặc trƣng đó là yếu tố chính trong quá trình sản xuất là đất đai, cây trồng và vật nuôi; kinh doanh - chế biến đối với các sản phẩm nông nghiệp và bao gồm cả yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nông nghiệp nhƣ: cung cấp giống, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y.3 Sự khác biệt cơ bản giữa các loại hình doanh nghiệp tư nhân Đƣa ra quyết định cuối cùng về phƣơng hƣớng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tƣ nhân là chủ doanh nghiệp; công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn là Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị, còn công ty cổ phần là Đại hội cổ đông. Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các thành viên góp vốn phải chuyển quyền sở hữu tài sản đó cho công ty sau khi doanh nghiệp đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Doanh nghiệp tƣ nhân có duy nhất một chủ sở hữu, còn công ty hợp danh có ít nhất 02 (hai) chủ sở hữu.
Một cá nhân nhà đầu tƣ không thể cùng một lúc là chủ sở hữu của 02 hay nhiều doanh nghiệp tƣ nhân; vừa là chủ sở hữu của doanh nghiệp tƣ nhân lại vừa là thành viên hợp danh của công ty hợp danh, không thể cùng một lúc là thành viên hợp danh của 02 hay nhiều công ty hợp danh (Một ngƣời không thể có nhiều trách nhiệm vô hạn). Một số ngành nghề chỉ có công ty TNHH hoặc công ty cổ phần mới đƣợc phép kinh doanh, nhƣ công ty chứng khoán phải là công ty TNHH hoặc công ty cổ phần, công ty quản lý đầu tƣ chứng khoán phải là công ty cổ phần. Sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp tƣ nhân do sự hình thành và sở hữu tài sản quyết định, các loại hình doanh nghiệp của tƣ nhân sẽ dần thay Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 thế cho các loại hình doanh nghiệp khác đang tồn tại hiện nay, trong đó hình thức công ty cổ phần, công ty TNHH sẽ ngày càng phát triển.2 Đặc điểm, vai trò của kinh tế tƣ nhân 1. Đặc điểm chung về kinh tế tư nhân Kinh tế tƣ nhân có những đặc điểm khác với kinh tế nhà nƣớc, kinh tế hợp tác xã.
Quyền sở hữu tài sản của các doanh nghiệp thuộc một cá nhân hay một nhóm ngƣời tham gia góp vốn sản xuất kinh doanh, đƣợc đăng ký và hoạt động theo Luật doanh nghiệp (Trƣớc đây là Luật doanh nghiệp tƣ nhân, Luật công ty). Trong khuôn khổ pháp luật doanh nghiệp của tƣ nhân có quyền tự do kinh doanh hoặc chủ động trong mọi sản xuất kinh doanh (trừ một số ngành nghề mà pháp luật cấm sản xuất kinh doanh) và tự chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình [13]. Quyền sở hữu về tƣ liệu sản xuất, quyền thừa kế về vốn tài sản, các quyền lợi hợp pháp khác của chủ các doanh nghiệp tƣ nhân, các thành viên công ty đƣợc nhà nƣớc bảo hộ theo pháp luật. Mục đích hoạt động của kinh tế tƣ nhân là thu lợi nhuận tối đa, không bị chi phối bởi các mục tiêu kinh tế xã hội khác nhƣ các doanh nghiệp nhà nƣớc, nên bộ máy quản lý thƣờng gọn nhẹ, thận trọng nhƣng rất năng động, sáng tạo, có khả năng chớp thời cơ kinh doanh nhanh chóng (Doanh nghiệp nhà nƣớc vấn đề này không dễ thực hiện).
Kinh tế tƣ nhân gắn với sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất nên tài sản, kinh nghiệm và kiến thức kinh doanh có thể đƣợc các thế hệ sau thừa kế và tạo động lực thúc đẩy phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh hơn hẳn doanh nghiệp nhà nƣớc. Kinh tế tƣ nhân sở hữu tài sản gắn với quản lý nên giữa quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi gắn chặt với nhau tạo ra tính chủ động tích cực, năng động trƣớc thị trƣờng. Vì lẽ đó nhà nƣớc chỉ cần có chiến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 lƣợc, chính sách đúng đắn để khuyến khích phát triển và hỗ trợ, không cần đầu tƣ trực tiếp lớn cho khu vực kinh tế này. Kinh tế tƣ nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp có tƣ liệu lao động chính là đất đai, cây trồng và vật nuôi.
Trong đó, chu kỳ của sản xuất phụ thuộc vào các đặc tính sinh lý của chính các đối tƣợng cây trồng và vật nuôi đó. Ngày nay, với sự tiến bộ của KHKT con ngƣời có thể tác động một phần vào đặc tính sinh lý đó để có thể kéo dài hoặc làm tăng nhanh quá trình đó nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá “trái vụ” bởi các sản phẩm nông nghiệp thƣờng có giá rẻ khi chính vụ và giá bán cao khi trái vụ [12]. Kinh tế tư nhân ở Việt Nam Kinh tế tƣ nhân ở Việt Nam có đặc điểm hoạt động trong nền kinh tế thị trƣờng, có sự quản lý của nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Các doanh nghịêp đƣợc thành lập từ khi có Luật Doanh nghiệp tƣ nhân và Luật Công ty (1990), chủ doanh nghiệp thƣờng thiếu kiến thức, kinh nghiệm kinh doanh và bỡ ngỡ trƣớc thị trƣờng (nhất là thị trƣờng nƣớc ngoài).
Quy mô sản xuất nhỏ bé, phân tán, năng suất lao động thƣờng thấp hơn doanh nghiệp nhà nƣớc, doanh nghiệp cùng thành phần của thế giới và khu vực. Sự hình thành và ra đời phần lớn là tự phát, khả năng cạnh tranh hạn chế, khả năng tích tụ chƣa đáng kể.