Tổng quan luận án
Công trình khoa học "Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Quảng Ninh" do nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Lan thực hiện tại Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Thanh Đức và PGS.TS. Trương Tuấn Biểu. Luận án thuộc chuyên ngành Kinh tế Chính trị (mã số 931 01 02), được bảo vệ năm 2018.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam qua hơn 30 năm, khi nhận thức lý luận và thực tiễn về kinh tế tư nhân (KTTN) có sự thay đổi căn bản: từ chỗ bị coi là đối tượng cải tạo sang việc được Đảng khẳng định là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đối với tỉnh Quảng Ninh – địa bàn ven biển thuộc vùng Đông Bắc có nhiều lợi thế tự nhiên, kinh tế và xã hội – KTTN đã có bước phát triển nhanh. Tính đến năm 2016, KTTN chiếm 93,2% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn, huy động 40,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp 30,9% GRDP của tỉnh. Tuy nhiên, KTTN tại đây nhìn chung vẫn phát triển chậm, quy mô nhỏ, năng suất thấp và sức cạnh tranh chưa cao, tạo ra khoảng cách lớn so với mục tiêu đến năm 2020 (đạt 22.000 doanh nghiệp, KTTN đóng góp 50 - 55% GRDP và 70% tổng vốn đầu tư toàn xã hội). Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần có công trình đánh giá hệ thống, toàn diện về thực trạng và xác định hệ thống giải pháp phát triển KTTN phù hợp với điều kiện đặc thù của tỉnh Quảng Ninh từ giác độ kinh tế chính trị.
Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới. Để thực hiện mục đích này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ cơ sở lý luận cho phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh;
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển KTTN ở một số địa phương trong nước và quốc tế, rút ra bài học cho tỉnh Quảng Ninh;
- Đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân thành tựu, hạn chế và xác định các vấn đề đặt ra trong phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh;
- Đề xuất quan điểm và giải pháp đẩy mạnh phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Phát triển kinh tế tư nhân.
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu sự phát triển KTTN trên các phương diện số lượng, quy mô, cơ cấu và chất lượng.
- Phạm vi về không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm chính:
Nhóm các công trình nghiên cứu ở nước ngoài:
- Neil Gregory, Stoyan Tenev, Dileep Wagle cùng nhóm chuyên gia IFC - World Bank (2000) với công trình China’s emerging private enterprises. Prospects for the new century, phân tích 3 giai đoạn phát triển của doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc (1978-1983, 1984-1991, 1991-2000), chỉ ra các mốc tự do hóa giá cả (1983) và sửa đổi Hiến pháp (1999) cùng các rào cản về pháp lý, tài chính, quản trị.
- Báo cáo Private sector assessment people’s republic of China của Ngân hàng Phát triển Châu Á - ADB (2003), khảo sát khu vực tư nhân Trung Quốc qua 4 giai đoạn (1978-1985, 1986-1991, 1991-2000, 2001-2003), nhấn mạnh tác động của việc gia nhập WTO.
- Thomas Heberer (2003) với Private entreprenuers in China and Vietnam: social and political functioning of strategic groups, so sánh thể chế và vai trò chính trị - xã hội của giới doanh nhân tại Trung Quốc và Việt Nam.
- Ross Garnut và Ligang Song (2004) với China’s third economic transformation: The rise of the private economy, làm rõ mối quan hệ giữa tư nhân hóa, cải cách doanh nghiệp nhà nước và phát triển doanh nghiệp tư nhân ở nông thôn.
- Henrik Schaumburg-Müller (2003) với bài báo trên tạp chí Development in Practice, nghiên cứu trường hợp Việt Nam trong quá trình chuyển đổi kinh tế, vai trò xóa đói giảm nghèo và những thách thức về quy mô, bất bình đẳng.
- Wang, Z. với nghiên cứu mô hình Giang Tô - Chiết Giang trên tạp chí Higher Education Press and Springer-Verlag, phân tích vai trò của KTTN tại vùng đồng bằng sông Dương Tử.
- Kongphet Phetsavong và Masaru Ichihashi (2012) tại Đại học Hiroshima, đánh giá định lượng tác động của đầu tư tư nhân, đầu tư công và FDI đối với tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển ở Châu Á giai đoạn 1984 - 2009.
- Christian Reiner và Cornelia Starit (2013) trong ấn phẩm của Quỹ Nghiên cứu Áo, luận giải về chính sách công nghiệp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận và thể chế trong nước:
- Các nghiên cứu của Nguyễn Đình Kháng (2002), Viện Thông tin Khoa học Xã hội (2003), Trịnh Thị Hoa Mai (2005), Nguyễn Thanh Tuyền (2006, Đề tài KX.02.04), Tạ Minh Thảo (2006), Đinh Đào Ánh Thủy (2007), Nguyễn Kế Tuấn (2010), Trung tâm Thông tin - Tư liệu CIEM (2010), Lương Minh Cừ và Vũ Văn Thư (2011), Nguyễn Đức Học (2011), Phạm Thị Lương Diệu (2012), Nguyễn Thị Thanh Huyền (2014), Nguyễn Đình Luận (2015), Vũ Hùng Cường (2016), Đỗ Thế Tùng (2017). Nhóm nghiên cứu này đã luận giải tính tất yếu khách quan, vai trò động lực của KTTN, vấn đề sở hữu, quan hệ bóc lột giá trị thặng dư và việc đảng viên làm KTTN.
- Về quản lý nhà nước và thực trạng: Hồ Văn Vĩnh, Nguyễn Đình Kháng, Võ Văn Đức (2001); Nguyễn Thanh Hóa (2002); Trần Đình Thiên và Lê Văn Hùng (2006); Ngô Văn Giang (2006); Tăng Văn Nghĩa (2006); Trần Anh Phương (2009); Phan Minh Tuấn (2013); Phạm Thị Thu Hằng (2014).
Nhóm các công trình nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và địa phương:
- Nguyễn Thái Bá Liên (2003), Đinh Thị Thơm (2004), Nguyễn Kim Bảo (2006), Đào Thị Thu Giang và Nguyễn Thu Thủy (2014) về kinh nghiệm của Trung Quốc, các nền kinh tế chuyển đổi và Ôxtrâylia.
- Các nghiên cứu địa phương của Hà Văn Ánh (2002, TP. Hồ Chí Minh), Hoàng Văn Hoa (2006, Hà Nội), Nguyễn Đức Chính (2011, Bắc Ninh), Huỳnh Huy Hòa và Lê Thị Hồng Cẩm (2014, Đà Nẵng), Nguyễn Phú Thái và nhóm tác giả (2017, Đà Nẵng), Lê Hồ Hiếu (2017, nguồn nhân lực Quảng Ninh).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình đã công bố tiếp cận KTTN ở nhiều góc độ vĩ mô và một số tỉnh, thành phố cụ thể, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh dưới góc độ kinh tế chính trị, đánh giá đúng thực trạng giai đoạn 2010 - 2016 và đề xuất hệ thống giải pháp gắn liền với đặc thù kinh tế biển, biên giới và quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của tỉnh Quảng Ninh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về sở hữu và thành phần kinh tế; các nghị quyết, văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội (từ Đại hội VI đến Đại hội XII, đặc biệt là Nghị quyết 14-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa IX và Nghị quyết 10-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII); các nghị quyết của Tỉnh ủy Quảng Ninh (Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và XIV).
Luận án xác định các khái niệm then chốt:
- Kinh tế tư nhân trong nền KTTT định hướng XHCN: Là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, tồn tại dưới hình thức hộ sản xuất, kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân, tiến hành sản xuất, kinh doanh tự chủ vì lợi ích kinh tế của chủ thể kinh tế tư nhân, qua đó thực hiện lợi ích kinh tế - xã hội của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Quảng Ninh: Là sự vận động, biến đổi của các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, dưới tác động của các quy luật kinh tế thị trường và sự định hướng, quản lý của Chính quyền tỉnh Quảng Ninh, do Đảng bộ lãnh đạo, thể hiện ở sự gia tăng về số lượng, quy mô, chất lượng cùng với chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại, hiệu quả nhằm góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh.
Nội dung phát triển KTTN cấp tỉnh được xác định qua 3 phương diện: (1) Gia tăng số lượng và quy mô; (2) Nâng cao chất lượng (hiệu quả sản xuất kinh doanh theo chiều rộng và chiều sâu, năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn qua hệ số ICOR, đóng góp ngân sách, trách nhiệm xã hội); (3) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế (cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu loại hình). Các nhóm nhân tố ảnh hưởng bao gồm: đường lối, thể chế kinh tế; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phân tích và tổng hợp: Sử dụng chủ yếu để xây dựng quan niệm, xác định nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển KTTN.
- Phương pháp lôgic và lịch sử: Sử dụng để phân tích tiến trình nhận thức của Đảng về KTTN và tổng kết kinh nghiệm phát triển KTTN ở một số địa phương trong nước, quốc tế.
- Phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh kết hợp phân tích, tổng hợp: Sử dụng để đánh giá thực trạng phát triển KTTN tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2016 theo các chỉ tiêu số lượng, vốn, lao động, tỷ trọng GRDP, cơ cấu ngành, năng suất và hệ số ICOR.
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Sử dụng để rút ra các bài học kinh nghiệm, xác định các vấn đề đặt ra và đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp.
Nguồn dữ liệu: Báo cáo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và các Sở của tỉnh Quảng Ninh; Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh năm 2013 và 2016. Dữ liệu về doanh nghiệp KTTN được trích xuất từ khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước sau khi đã loại trừ các cơ sở kinh tế tập thể.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Chương này điểm luận chi tiết 3 nhóm công trình: nghiên cứu ở nước ngoài (Trung Quốc, Việt Nam, các nền kinh tế Châu Á, chính sách công nghiệp); nghiên cứu trong nước về cơ sở lý luận, thể chế của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nghiên cứu thực tiễn phát triển KTTN tại các quốc gia và địa phương (Bắc Ninh, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh). Tác giả tổng hợp các kết quả đã đạt được trong giới học thuật về nhận thức lý luận, hệ thống hóa tiêu chí và phân tích thực trạng, từ đó khẳng định khoảng trống nghiên cứu chuyên sâu về KTTN tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2016 dưới góc độ kinh tế chính trị.
Chương 2: Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Quảng Ninh và kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân của một số địa phương trong và ngoài nước
Chương 2 luận giải quá trình đổi mới nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam qua 3 giai đoạn: (1) Từ Đại hội VI đến trước Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX; (2) Từ Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX đến Đại hội X; (3) Từ Đại hội XI đến Hội nghị Trung ương 5 Khóa XII. Tác giả phân tích các đặc điểm chung của KTTN và 3 đặc điểm riêng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời phân tích 6 vai trò cơ bản của KTTN: động lực phát triển kinh tế; giải phóng sức sản xuất và phân bổ nguồn lực; thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu; xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ; giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu ngân sách; thực hiện quyền dân chủ về kinh tế.
Chương này cũng xác định khung nội dung phát triển KTTN tại Quảng Ninh (số lượng, quy mô, chất lượng, chuyển dịch cơ cấu), các nhóm nhân tố tác động (thể chế, hạ tầng, điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội), khảo cứu kinh nghiệm phát triển KTTN của một số địa phương trong nước và quốc tế, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm thực tiễn áp dụng cho tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Quảng Ninh
Chương 3 tập trung phân tích thực trạng phát triển KTTN tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2016 thông qua hệ thống số liệu thống kê kinh tế. Các nội dung phân tích thực trạng và cơ cấu được lượng hóa qua danh mục bảng số liệu và biểu đồ của luận án:
| Số hiệu |
Tên bảng / biểu đồ trong luận án |
Nội dung phản ánh chính trong văn bản |
| Bảng 3.1 |
Số lượng hộ cá thể phi nông, lâm nghiệp, thủy sản và trang trại ở tỉnh Quảng Ninh |
Quy mô và sự biến động của khu vực kinh tế cá thể, hộ sản xuất kinh doanh |
| Bảng 3.2 |
Vốn đầu tư trong các TPKT ở tỉnh Quảng Ninh |
Tỷ trọng vốn đầu tư của KTTN so với toàn xã hội (năm 2016 chiếm 40,8%) |
| Bảng 3.3 |
Tỷ trọng cơ cấu lao động và tổng sản phẩm của KTTN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh năm 2016 |
Mức độ đóng góp của KTTN vào việc làm và GRDP (đóng góp 30,9% GRDP) |
| Bảng 3.4 |
Chỉ số phát triển và cơ cấu của KTTN trong một số ngành dịch vụ chủ yếu ở tỉnh Quảng Ninh |
Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu KTTN trong các ngành thương mại, du lịch, dịch vụ |
| Bảng 3.5 |
Chỉ số phát triển và cơ cấu của KTTN trong một số ngành công nghiệp chủ yếu ở tỉnh Quảng Ninh |
Sự chuyển dịch và phát triển của doanh nghiệp KTTN trong các ngành công nghiệp |
| Bảng 3.6 |
Quy mô lao động và vốn của doanh nghiệp trong các TPKT ở tỉnh Quảng Ninh năm 2015 |
Đánh giá quy mô vốn và lao động bình quân của doanh nghiệp KTTN so với các khu vực khác |
| Bảng 3.7 |
Trang bị tài sản cố định bình quân lao động và năng suất lao động của DN trong các TPKT ở tỉnh Quảng Ninh |
Mức độ đầu tư công nghệ, trang bị kỹ thuật và năng suất lao động của khu vực KTTN |
| Bảng 3.8 |
Hệ số ICOR của các TPKT ở tỉnh Quảng Ninh |
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tăng trưởng của KTTN so với các thành phần kinh tế |
| Biểu đồ 3.1 |
Số lượng doanh nghiệp thuộc các TPKT |
So sánh số lượng DN ngoài nhà nước (chiếm 93,2% năm 2016 với 4.266 DN) với DN nhà nước và FDI |
| Biểu đồ 3.2 |
Số lượng các loại hình doanh nghiệp KTTN |
Cơ cấu giữa công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh |
| Biểu đồ 3.3 |
So sánh tổng sản phẩm giữa doanh nghiệp và hộ kinh tế cá thể ở tỉnh Quảng Ninh |
Tương quan đóng góp giá trị sản lượng giữa khu vực doanh nghiệp tư nhân và hộ cá thể |
Chương này chỉ rõ các thành tựu đạt được: số lượng doanh nghiệp và hộ cá thể tăng nhanh; cơ cấu chuyển dịch tích cực sang dịch vụ, du lịch và kinh tế biển; đóng góp ngân sách và giải quyết việc làm tăng. Hạn chế chủ yếu: phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, trang bị tài sản cố định trên lao động thấp, năng suất lao động hạn chế, năng lực tài chính và quản trị yếu, mức độ tham gia vào chuỗi giá trị chưa sâu. Trên cơ sở đó, tác giả phân tích nguyên nhân khách quan, chủ quan và nêu rõ các vấn đề đặt ra cần giải quyết.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Quảng Ninh thời gian tới
Chương 4 xác định phương hướng phát triển gắn liền với mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh: phấn đấu đến năm 2020 có 22.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập (trong đó có 300 doanh nghiệp quy mô lớn), KTTN đóng góp 50 - 55% GRDP, huy động khoảng 70% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp 35 - 40% GRDP, năng suất lao động xã hội tăng 15 - 16%/năm, và 35 - 40% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo.
Tác giả đề xuất hệ thống quan điểm và nhóm giải pháp phát triển KTTN tỉnh Quảng Ninh thời gian tới bao gồm:
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách của địa phương nhằm tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, minh bạch, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền các cấp; tăng cường đối thoại, hỗ trợ tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp.
- Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trọng tâm là hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, hạ tầng khu kinh tế (Vân Đồn), các khu công nghiệp (Đầm Nhà Mạc, Hải Hà) và hạ tầng khu vực nông thôn, biên giới, hải đảo.
- Hỗ trợ doanh nghiệp KTTN tiếp cận các nguồn lực sản xuất: mặt bằng kinh doanh, đất đai, nguồn vốn tín dụng, khoa học công nghệ và xúc tiến thị trường.
- Đổi mới công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao trình độ quản trị doanh nghiệp và tay nghề cho người lao động.
- Nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các hiệp hội doanh nghiệp trong việc đồng hành, hỗ trợ KTTN phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kết quả và những đóng góp mới
Theo tuyên bố của tác giả trong văn bản, luận án đạt được 3 đóng góp mới chủ yếu:
- Về lý luận: Làm rõ quan niệm, nội hàm và khung nội dung phát triển KTTN cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vận dụng trực tiếp vào điều kiện cụ thể của tỉnh Quảng Ninh.
- Về thực tiễn: Đánh giá có căn cứ khoa học và số liệu thực tế về những thành tựu, hạn chế trong phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2016; chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng và xác định các vấn đề kinh tế - xã hội then chốt cần giải quyết.
- Về giải pháp: Đề xuất hệ thống quan điểm có tính định hướng và các giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm đẩy mạnh phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh, hướng tới mục tiêu đưa KTTN trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương.
Các giải pháp đề xuất bao quát từ hoàn thiện thể chế địa phương, nâng cấp hạ tầng, cải cách hành chính, hỗ trợ tiếp cận vốn và mặt bằng, đào tạo nhân lực đến việc phát huy vai trò của tổ chức Đảng và hiệp hội doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian dừng lại ở giai đoạn 2010 - 2016, chưa phản ánh được các biến động kinh tế và thay đổi chính sách ở giai đoạn sau năm 2016.
- Về nguồn số liệu, dữ liệu thống kê doanh nghiệp KTTN được bóc tách từ khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước trong niên giám thống kê sau khi loại trừ kinh tế tập thể, do đó một số chỉ tiêu chuyên sâu về kinh tế phi chính thức và hộ cá thể nông nghiệp chưa được lượng hóa đầy đủ.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi thời gian nghiên cứu sang giai đoạn sau năm 2016 để đánh giá tác động của việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII về phát triển KTTN tại địa phương.
- Nghiên cứu so sánh đối chứng mô hình phát triển KTTN của tỉnh Quảng Ninh với các tỉnh, thành phố khác trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và cấp ủy địa phương: Cung cấp luận cứ thực tiễn và cơ sở khoa học cho Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh cùng các Sở, ban, ngành trong việc hoạch định chủ trương, quy hoạch và ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KTTN.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên: Làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy học phần Kinh tế Chính trị Mác - Lênin, chuyên đề phát triển thành phần kinh tế và kinh tế địa phương tại các trường đại học, học viện và viện nghiên cứu.
- Các phần nội dung đáng tham khảo nhất: Khung lý luận về phát triển KTTN cấp địa phương (Chương 2); Hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết về cơ cấu, vốn, lao động, năng suất và hệ số ICOR của KTTN Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2016 (Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như thế nào?
Theo luận án, kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, tồn tại dưới hình thức hộ sản xuất, kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân, tiến hành sản xuất, kinh doanh tự chủ vì lợi ích kinh tế của chủ thể kinh tế tư nhân, qua đó thực hiện lợi ích kinh tế - xã hội của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Thực trạng số lượng và tỷ trọng đóng góp của kinh tế tư nhân tỉnh Quảng Ninh năm 2016 được ghi nhận như thế nào?
Tính đến năm 2016, kinh tế tư nhân chiếm 93,2% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh với 4.266 doanh nghiệp đang hoạt động. Khu vực này chiếm 40,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp 30,9% vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh.
3. Tỉnh Quảng Ninh đặt ra những mục tiêu cụ thể nào về phát triển doanh nghiệp và kinh tế tư nhân đến năm 2020?
Tỉnh Quảng Ninh đặt mục tiêu đến năm 2020 có 22.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập (trong đó có 300 doanh nghiệp quy mô lớn, tiềm lực mạnh). KTTN đóng góp khoảng 50 - 55% GRDP và khoảng 70% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt khoảng 35 - 40% GRDP, năng suất lao động xã hội tăng 15 - 16%/năm, và 35 - 40% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới, sáng tạo.
4. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 - 2015 đạt mức bao nhiêu so với bình quân cả nước?
Theo báo cáo của Tỉnh ủy Quảng Ninh được trích dẫn trong luận án, giai đoạn 2011 - 2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh Quảng Ninh đạt 9,2%/năm, cao gấp 1,5 lần so với mức bình quân chung của cả nước trong cùng giai đoạn (5,82%/năm).
5. Luận án phân tích những điều kiện tự nhiên đặc thù nào của tỉnh Quảng Ninh tác động đến sự phát triển kinh tế tư nhân?
Luận án chỉ ra các điều kiện tự nhiên gồm: bờ biển dài 250 km, có 2.000 ha bãi triều, hơn 20.000 ha diện tích eo biển và vịnh, 10/14 đơn vị hành chính có biển đảo; đường biên giới trên bộ 120 km và trên biển gần 190 km; 3 cửa khẩu (Móng Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh); danh thắng Vịnh Hạ Long; sở hữu các mỏ than lớn nhất nước cùng các mỏ đá vôi, đất sét, cao lanh. Đây là tiền đề tự nhiên để KTTN phát triển các ngành du lịch, dịch vụ thương mại biên giới, kinh tế biển và công nghiệp khai khoáng, vật liệu xây dựng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Quảng Ninh" của tác giả Nguyễn Ngọc Lan là công trình nghiên cứu hệ thống về KTTN cấp tỉnh dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế Chính trị. Công trình đã làm rõ cơ sở lý luận, phân tích toàn diện thực trạng phát triển KTTN tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2016 trên các phương diện quy mô, cơ cấu, năng suất và hiệu quả đầu tư. Dựa trên việc chỉ ra các hạn chế và nguyên nhân, luận án đã xây dựng hệ thống quan điểm và nhóm giải pháp phát triển KTTN gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu cung cấp nguồn tư liệu học thuật và căn cứ thực tiễn phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo và hoạch định chính sách kinh tế địa phương.