Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài China’s emerging private enterprises. Prospects for the new century [89] (DNTN mới nổi ở Trung Quốc. Viễn cảnh trong thế kỷ mới) của tổ chức Tài chính quốc tế IFC thuộc Ngân hàng thế giới World Bank (2000).
Đây là nghiên cứu của nhóm tác giả Neil Gregory, Stoyan Tenev, Dileep Wagle cùng với các chuyên gia cao cấp của văn phòng IFC ở Bắc Kinh. Các tác giả đã nghiên cứu sự phát triển của DNTN Trung Quốc kể từ sau khi cải cách đến năm 2000 với ba giai đoạn: 1978 - 1983, 1984 - 1991, 1991 - 2000. Trong các giai đoạn này, những dấu mốc quan trọng cho sự phát triển KTTN là: thực hiện tự do hóa giá cả thị trường vào năm 1983, là điều kiện để các hộ cá thể phát triển thành DNTN; sửa đổi Hiến pháp lần thứ 3 vào năm 1999 chính thức thừa nhận vai trò quan trọng như nhau của khu vực kinh tế công hữu và phi công hữu đã đặt nền móng cho sự phát triển của khu vực KTTN trong giai đoạn mới. Nghiên cứu chỉ ra những tồn tại của khu vực KTTN Trung quốc như: vấn đề địa vị pháp lý, chế độ cho người lao động, tình hình tài chính không rõ ràng, khó khăn trong huy động vốn, ý thức chấp hành pháp luật kém dẫn đến sự mất lòng tin ở các cấp chính quyền.
Private sector assessment people’s republic of China [87] (Đánh giá khu vực tư nhân ở Trung Quốc) của Ngân hàng châu Á (2003). Nghiên cứu được tiến hành cho toàn bộ khu vực KTTN gồm DNTN và hộ cá thể ở Trung Quốc trong 04 giai đoạn: 1978 - 1985, 1986 - 1991, 1991 - 2000, 2001- 2003. Nghiên cứu đã đề cập một số nội dung liên quan tới môi trường vĩ mô, hành lang pháp lý và những yếu tố cản trở sự hoạt động của KTTN. Điểm đáng lưu ý là nghiên cứu này đã xem xét tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đến sự phát triển KTTN.
11 Private entreprenuers in China and Vietnam: social and political functioning of strategic groups [94] (Doanh nhân tư nhân Trung Quốc và Việt Nam: chức năng xã hội và chính trị) của Thomas Heberer, Nhà xuất bản Brill Leiden Bosto (2003). Nghiên cứu so sánh sự giống nhau và khác nhau về thể chế kinh tế, chính trị, xã hội giữa hai quốc gia Trung Quốc, Việt Nam và tìm hiểu chức năng xã hội và chính trị của doanh nhân ở Trung Quốc, Việt Nam. Dựa trên kết quả khảo sát các doanh nhân Trung Quốc và Việt Nam, tác giả cho rằng ở hai quốc gia này, doanh nhân đều mong muốn có tiếng nói thực sự trong việc đưa ra các quyết định chính trị. Điều đó trở nên rõ ràng khi trong những thập kỷ vừa qua doanh nhân đã có thu nhập và địa vị xã hội có ảnh hưởng đáng kể trên tất cả các tầng lớp xã hội.
China’s third economic transformation: The rise of the private economy [92] (Sự chuyển đổi thứ ba của nền kinh tế Trung Quốc: Sự lớn mạnh của KTTN) của Ross Garnut and Ligang Song, Nhà xuất bản Routledge Cuzon (2004). Nghiên cứu đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến KTTN như: quá trình tư nhân hóa gắn với cải cách DNNN; ảnh hưởng của FDI; kinh tế thị trường và môi trường kinh doanh. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã đề cập trực tiếp đến sự phát triển các DNTN ở nông thôn. Private-sector development in a transition economy: The case of Vietnam [93] (Phát triển khu vực tư nhân trong nền kinh tế chuyển đổi: Trường hợp của Việt Nam) của Schaumburg-Müller, Henrik, Tạp chí Development in Practice, Vol.
Nghiên cứu đã chỉ ra kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới năm 1986, sự phát triển của khu vực tư nhân là một mối quan tâm trong chính sách của Đảng Cộng sản và Chính phủ Việt Nam. KTTN đang trở thành nhân tố quan trọng đóng góp cho kinh tế Việt Nam trong việc duy trì tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, sự phát triển khu vực tư nhân ở Việt Nam còn ở trình độ thấp, quy mô nhỏ và đang phải cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn của nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài. Xóa đói giảm 12 nghèo đã được thực hiện rất ấn tượng nhưng sự bất bình đẳng vẫn còn là một thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam.
Jiangsu - Zhejiang model and the nationwide development of the private sector in China [95] (Giang Tô - Chiết Giang mô hình và sự phát triển của khu vực tư nhân ở Trung Quốc) của Wang, Z., Tạp chí Higher ducation Press and Springer-Verlag, Vol. Nghiên cứu đã chỉ ra, cùng với việc thực hiện chính sách cải cách và mở cửa ở Trung Quốc, hai tỉnh Giang Tô và Chiết Giang đã có sự phát triển kinh tế nhanh chóng. Giang Tô, Chiết Giang cùng với Thượng Hải đã định hình trung tâm kinh tế vùng đồng bằng sông Dương Tử. Khu vực tư nhân chính là động lực cho sự phát triển kinh tế mạnh mẽ ở đồng bằng sông Dương Tử, đặc biệt là tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế, phát triển nền KTTT.
Mô hình phát triển khu vực tư nhân của Đồng bằng sông Dương Tử được dần dần mở rộng phạm vi trong cả nước đã tác động mạnh mẽ đến phát triển KTTT trên toàn quốc. The Impact of Public and Private Investment on Economic Growth: Evidence from Developing Asian Countries [89] (Tác động của đầu tư công và tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế: Bằng chứng từ các nước đang phát triển Châu Á) của hai tác giả Kongphet Phetsavong và Masaru Ichihashi được đăng trong kỷ yếu hội thảo của trường Nghiên cứu phát triển và hợp tác quốc tế, Đại học Hiroshima, năm 2012. Bài báo phân tích ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của khu vực công, FDI và tư nhân trong nước đối với các nước đang phát triển ở Châu Á giai đoạn 1984 - 2009. Kết quả thực nghiệm cho thấy đầu tư của tư nhân trong nước đóng vai trò quan trọng nhất, góp phần tăng trưởng kinh tế.
Đứng thứ hai là FDI, trong khi khu vực công dường như làm tổn hại đến tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, khu vực công ở các nước đang phát triển của Châu Á được đầu tư quá lớn đã làm giảm tác động tích cực của FDI và đầu tư của tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế. 13 Private sector development and industrial policy: Why, how and for whom? [88] (Phát triển khu vực tư nhân và chính sách công nghiệp: Tại sao, như thế nào và cho ai?) của hai tác giả Christian Reiner và Cornelia Starit được đăng trong cuốn sách “Private Sector Development - Ein neuer Businessplan für Entwicklung?” do Quỹ Nghiên cứu Áo vì sự phát triển quốc tế phát hành năm 2013. Nghiên cứu cho rằng đã có sự đồng thuận rộng rãi trong nhận thức và thực tiễn về khu vực tư nhân đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế.
Khu vực KTTN năng động, đổi mới, hiệu quả là động lực của tăng trưởng, tạo việc làm, thu nhập, và sự thịnh vượng. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống, chính phủ các nước đang phát triển cần tạo điều kiện cho KTTN phát triển công nghiệp. Chính phủ nên tập trung vào các chính sách, cải thiện cơ sở hạ tầng, đảm bảo quyền sở hữu, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, giảm gánh nặng pháp lý thông qua bãi bỏ quy định và cung cấp ưu đãi thuế hoặc tài chính. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, doanh nghiệp ở các nước đang phát triển, nhất là DNNVV đối diện với nhiều thách thức khi phải cạnh tranh với các doanh nghiệp ở các quốc gia có nền công nghiệp phát triển.
Do đó, chính phủ các nước đang phát triển cần chú trọng lựa chọn phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh của quốc gia, đồng thời, quan tâm và hỗ trợ DNNVV giải quyết khó khăn. Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tác giả Nguyễn Đình Kháng (2002) với bài viết KTTN và xu hướng của nó trong nền KTTT định hướng XHCN [38]. Nghiên cứu đã đưa ra lý do khẳng định sự tồn tại nhiều TPKT, trong đó có KTTN ở nước ta hiện nay, gồm: Yêu cầu xây dựng quan hệ sản xuất XHCN; đặc điểm của Việt Nam khi bước vào TKQĐ; vai trò của KTTN trong nền kinh tế; thực trạng tiềm lực, khả năng của 14 KTNN, kinh tế tập thể chưa đủ mạnh để có thể đảm đương được việc đáp ứng nhu cầu của xã hội; đòi hỏi của tình hình quốc tế hiện nay.
Viện Thông tin khoa học xã hội (2003) với công trình nghiên cứu Kinh tế tư nhân trong giai đoạn toàn cầu hóa [85]. Cuốn sách gồm nhiều bài viết của các chuyên gia trong nước và quốc tế tập trung luận giải sự tồn tại tất yếu của sở hữu tư nhân trong giai đoạn phát triển hiện nay và cho thấy hình thức đa dạng của sở hữu tư nhân ở phương Tây, phương Đông. Nghiên cứu đề cập đến mô hình phát triển KTTT XHCN của Trung Quốc, trong đó, chỉ ra KTTN được xác định là yếu tố cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Đồng thời, nghiên cứu chỉ ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế, tư nhân hóa là xu thế diễn ra ở nhiều nền kinh tế dù có thể chế khác nhau.
Tác giả Trịnh Thị Hoa Mai (2005) với công trình nghiên cứu KTTN Việt Nam trong tiến trình hội nhập [50]. Theo tác giả, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, quan niệm KTTN nên được hiểu phạm vi rộng bao gồm cả DNTN trong nước và DNTN nước ngoài để phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời thể hiện được đầy đủ sức mạnh và vai trò to lớn của khu vực KTTN. Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng của DNTN trong nước, tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Từ đó, đề xuất các giải pháp phát triển KTTN ở nước ta nhằm thu hút mạnh mẽ nguồn vốn nước ngoài, đồng thời, thúc đẩy DNTN trong nước phát triển.
Tác giả Nguyễn Thanh Tuyền chủ biên (2006) với công trình nghiên cứu Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam [79]. Cuốn sách là kết quả của công trình nghiên cứu thuộc đề tài khoa học cấp Nhà nước KX.