CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TRỒNG TRỌT 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI TRỒNG TRỌT 1. Trang trại và kinh tế trang trại 1. Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại * Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại Trong thực tiễn giao tiếp và văn phong của Việt Nam, chúng ta thường gặp hai khái niệm “trang trại” và “kinh tế trang trại”.
Đây là hai phạm trù có những nét riêng về cách nhìn nhận, tiếp cận đến một thực thể kinh tế - xã hội trong nông nghiệp, nông thôn; tương ứng người ta cũng có thể dùng khái niệm “nông trại” và “kinh tế trang trại”; đó là cách nói tắt, nhấn mạnh đến ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu là nông nghiệp, ở nông thôn. Khi nói đến: “trang trại” hay “nông trại” là muốn đề cập đến những cơ sở sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp), đó là một kiểu tổ chức sản xuất kinh doanh cụ thể trong nông nghiệp. Phạm trù “trang trại” bao hàm không chỉ các quan hệ kinh tế, mà còn các quan hệ hành chính (địa dư và pháp lý); quan hệ gia đình (huyết thống và hôn nhân); quan hệ xã hội (truyền thống, tập quán, giao tiếp); quan hệ môi trường (khai thác và sử dụng, bảo vệ và tái tạo). Khi nói “kinh tế trang trại” là nhằm đề cập đến mặt bản chất kinh tế - xã hội cốt lõi nhất, các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại, đó là: quan hệ trong nội bộ trang trại, quan hệ giữa các trang trại với nhau, quan hệ giữa trang trại với hợp tác xã, quan hệ giữa trang trại với các tổ chức khác như: Nhà nước, các công ty, xí nghiệp, trên thị trường, được xem xét trên góc độ các quan hệ kinh tế hàng hóa đầu vào và đầu ra.
Việc phân biệt hai khái niệm trên cho thấy, về ngữ nghĩa không thể là một, tuy nhiên trong thực tế cũng như trong văn phong, khi nghiên cứu về mặt kinh tế ở một số trường hợp cụ thể, có thể sử dụng hai thuật ngữ “trang trại” và “kinh tế trang trại” như là đồng nhất, mà không làm sai lệch vấn đề cần diễn đạt. 6 Luan van Căn cứ vào chủ trương phát triển kinh tế trang trại được nêu trong các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP của Chính phủ về kinh tế trang trại: Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu là dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản [18]. * Khái niệm về kinh tế trang trại trồng trọt Kinh tế trang trại trồng trọt là một nền sản xuất kinh tế trong nông nghiệp với nông sản hàng hóa là sản phẩm của trồng trọt cây hàng năm và cây lâu năm. Đó là tổng thể các mối quan hệ kinh tế của các tổ chức sản xuất hoạt động kinh doanh nông nghiệp, xét ở phạm vi trồng trọt.
Bao gồm các hoạt động trước và sau sản xuất nông sản hàng hóa xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại trồng trọt ở các vùng kinh tế khác nhau. Kinh tế trang trại trồng trọt cũng là sản phẩm của thời kỳ công nghiệp hóa, quá trình hình thành và phát triển các trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hóa từ thấp đến cao, tỷ trọng hàng hóa từ thấp đến cao cũng như trình độ sản xuất, quy mô và năng lực sản xuất đáp ứng được nhu cầu sản phẩm hàng hóa như: gạo, ngô, khoai, rau, đậu, hoa quả … trên thị trường, phù hợp với sự phát triển kinh tế thị trường hiện nay. KTTT trồng trọt là một nền tảng lớn của một hệ thống KTTT nói chung, là một bộ phận của nền sản xuất trong nông nghiệp, phụ thuộc nhiều vào điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết, giống cây trồng, chăm sóc cây trồng,. Sản phẩm của trồng trọt phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tiêu dùng của đại đa số người dân trong cả nước.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất phát từ nhu cầu thị trường, KTTT trồng trọt là sự phát triển tất yếu của quy luật sản xuất hàng hóa. Do đó, các yếu tố đầu vào như: vốn, lao động, giống, trình độ khoa học công nghệ, cũng như các sản phẩm đầu ra: gạo, ngô, khoai, rau, đậu, hoa quả, … đều là hàng hóa. Từ đó có thể rút ra khái niệm về kinh tế trang trại trồng trọt: KTTT trồng trọt là một hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt các loại cây trồng hàng năm và lâu năm, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản. Bản chất của kinh tế trang trại trồng trọt Trong lịch sử phát triển của nông nghiệp các nước trên thế giới cũng như ở nước ta đã từng tồn tại các hình thức sản xuất nông nghiệp mang tính tập trung được tiến hành trên một quy mô diện tích ruộng đất đủ lớn, nhằm sản xuất ra khối lượng nông sản phẩm lớn hơn so với hình thức sản xuất nông nghiệp truyền thống, phân tán trên những diện tích ruộng đất nhỏ.
Ngày nay trong điều kiện kinh tế thị trường, ngôn ngữ các nước đều có những thuật ngữ để chỉ hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung với những biến đổi cơ bản so với các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung với những biến đổi cơ bản so với các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trong các phương thức sản xuất. “Trang trại” hay “nông trại” thì có thể hiểu đó là những khu đất tương đối lớn. Ở đó sản xuất nông nghiệp được tiến hành có tổ chức dưới sự chỉ huy của một người chủ mà phần đông là chủ gia đình nông dân bao gồm cả nông dân lĩnh canh trong giai đoạn nông nghiệp đi vào sản xuất hàng hóa và từng bước gắn liền với kinh tế thị trường. Bản chất “trang trại” hay “nông trại” là thuật ngữ trong điều kiện kinh tế thị trường là thuật ngữ gắn liền với hình thức sản xuất nông nghiệp mang tính tập trung trên một diện tích đất đủ lớn nhằm sản xuất nông sản phẩm hàng hóa với quy mô gia đình là chủ yếu.
Ở Việt Nam, từ sau Nghị quyết X của Bộ Chính trị (Tháng 4/1998) về đổi mới kinh tế nông nghiệp, quan hệ sản xuất trong nông nghiệp nước ta được điều chỉnh một bước. Song phải đến Nghị quyết VI của Ban chấp hành trung ương (khoá VI – 3/1989) hộ gia đình xã viên mới được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ cùng với một loạt các chính sách kinh tế được ban hành. Kinh tế hộ nông dân nước ta đã có bước phát triển đáng kể. Một bộ phận nông dân có vốn, kiến thức, kinh nghiệm sản xuất và quản lý, có ý chí làm ăn đã đầu tư và phát triển nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, họ trở lên khá giả.
Trong đó một số hộ chuyển sang sản xuất hàng hoá, nhưng đại bộ phận các hộ nông dân sản xuất với mục tiêu chủ yếu là để tiêu dùng, số sản phẩm đưa ra bán trên thị trường là sản phẩm dư thừa, sau khi đã dành cho tiêu dùng. Số sản phẩm hàng hoá một mặt chưa ổn định, còn phụ 8 Luan van thuộc vào kết quả sản xuất từng năm và mức tiêu dùng của từng gia đình và mặt khác họ chỉ bán cái mà mình có chứ chưa bán cái mà thị trường cần. Như vậy muốn phân biệt kinh tế trang trại với kinh tế hộ nông dân là căn cứ và mục tiêu sản xuất. Đối với hộ nông dân mục tiêu sản xuất của họ là để tiêu dùng, sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng về lương thực, thực phẩm và các nhu cầu khác của họ.
Ngược lại, mục tiêu sản xuất của kinh tế trang trại là sản xuất hàng hoá lớn nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường về các loại nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, sản phẩm sản xuất ra là để bán. Như vậy trình độ phát triển của kinh tế hộ nông dân chỉ dừng lại ở sản xuất hàng hoá phải tự cung tự cấp. Để có nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn phải chuyển kinh tế hộ nông dân sang phát triển kinh tế trang trại. Những đặc trưng của kinh tế trang trại trồng trọt Tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp tồn tại nhiều loại hình tổ chức sản xuất khác nhau, KTTT trồng trọt mang những đặc trưng cơ bản sau: * Mục đích chủ yếu của kinh tế trang trại là sản xuất nông sản phẩm hàng hóa theo nhu cầu thị trường KTTT là hình thức kinh tế từng bước đưa nông dân từ hộ nông nghiệp tự cấp tự túc lên các hộ nông nghiệp hàng hóa.
Vai trò khách quan mang tính lịch sử này của KTTT gắn liền với tính hai mặt của hộ nông dân, với trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp và sự giao lưu hàng hóa giữa thành thị và nông thôn. Nông hộ vừa là gia đình - đơn vị trực tiếp tiêu dùng của xã hội, vừa là cơ sở sản xuất nông nghiệp sản xuất ra những sản phẩm tối cần thiết cho cuộc sống có thể tiêu dùng trực tiếp. Các hộ nông dân muốn làm giàu phải thoát khỏi tình trạng sản xuất tự cấp tự túc và từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa theo phương thức trang trại. * Tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập Trong các trang trại mà tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu của chủ trang trại trong trường hợp đi thuê hay được giao quyền sử dụng thì tư liệu sản xuất đều thuộc quyền sử dụng của một người chủ độc lập.
9 Luan van Người chủ độc lập ở đây không phải là người chủ biệt lập, tách rời khỏi các quan hệ liên kết và hợp tác với các chủ thể kinh tế khác. Người chủ độc lập ở đây là người hoàn toàn có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.