Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế chính trị (mã số: 05.01) của nghiên cứu sinh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Bình Trọng tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, tháng 12 năm 1997) mang tiêu đề: "Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Ninh Thuận".

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hóa đã phát triển tại nhiều nước trên thế giới và xuất hiện ở miền Nam Việt Nam từ trước năm 1975. Sau khi đất nước thống nhất, mô hình này bị gián đoạn dưới cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp. Từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện đường lối đổi mới kinh tế nông nghiệp, nông thôn (đặc biệt là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII khẳng định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ), kinh tế trang trại đã từng bước tái lập và phát triển thích ứng với cơ chế thị trường. Tuy nhiên, quá trình tích tụ đất đai, đầu tư vốn và sử dụng lao động làm thuê tại khu vực nông thôn đang đặt ra nhiều vấn đề mới cả về mặt lý luận kinh tế chính trị lẫn thực tiễn quản lý vĩ mô. Vấn đề bản chất kinh tế của trang trại, sự phân hóa xã hội ở nông thôn và cơ chế quản lý để loại hình này vận động theo định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được nghiên cứu hệ thống tại một địa bàn bán khô hạn đặc thù như tỉnh Ninh Thuận.

Mục đích nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể qua ba nội dung:

  1. Phân tích những vấn đề có tính lý luận, có cơ sở khoa học về quá trình hình thành và phát triển loại hình kinh tế trang trại; làm rõ những đặc trưng cơ bản cũng như các nhân tố ảnh hưởng, từ đó phân biệt rõ kinh tế trang trại với kinh tế hộ nông dân tiểu nông và kinh tế tư nhân.
  2. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực trạng tại địa phương để lựa chọn quy mô sản xuất hợp lý, cơ cấu giữa cung và cầu, giữa trồng trọt và chăn nuôi, giữa khả năng và tiềm năng cho phép; từ đó xác định mối quan hệ phân công lao động hợp lý và dự báo xu thế phát triển của loại hình kinh tế trang trại.
  3. Đề xuất các kiến nghị với Đảng, Nhà nước ở cấp Trung ương và chính quyền địa phương về cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện cho kinh tế trang trại phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình hình thành và phát triển của các loại hình trang trại tại tỉnh Ninh Thuận, tập trung vào ba lĩnh vực chủ lực: trang trại chăn nuôi gia súc có sừng (bò, dê, cừu), trang trại trồng cây công nghiệp (trọng tâm là mía đường kết hợp chế biến), và trang trại nuôi trồng thủy sản (sản xuất tôm giống và nuôi tôm thịt). Phạm vi không gian nghiên cứu bao gồm địa bàn tỉnh Ninh Thuận (tập trung khảo sát sâu tại các huyện Ninh Phước, Ninh Hải, Ninh Sơn và thị xã Phan Rang - Tháp Chàm), có liên hệ so sánh với một số tỉnh thuộc miền Bắc, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và kinh nghiệm quốc tế. Phạm vi thời gian nghiên cứu khái quát từ trước năm 1975, tập trung chủ yếu vào giai đoạn đổi mới từ năm 1992 (thời điểm tái lập tỉnh Ninh Thuận) đến năm 1997.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan, tác giả điểm lại các cơ sở lý luận kinh điển và các tài liệu khảo cứu thực tiễn trong nước và quốc tế để định vị đề tài:

  • Về lý luận kinh điển, luận án trích dẫn các quan điểm của C. Mác trong tác phẩm "Tư bản" (Tập 1 và Tập 3), phân tích quá trình tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản, việc tước đoạt ruộng đất của nông dân để hình thành các đồn điền, trang trại chăn nuôi cừu tại nước Anh, cũng như bản chất bóc lột lao động làm thuê của các chủ trại tư bản. Đồng thời, tác giả viện dẫn phân tích của C. Mác về kinh tế tiểu nông (người sản xuất tự tiêu dùng đại bộ phận sản phẩm và chỉ trao đổi phần dư thừa) và luận điểm của V.I. Lênin trong tác phẩm "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở nước Nga" cùng các khảo cứu về nông trại tại Mỹ, chỉ rõ xu hướng phân hóa giai cấp ở nông thôn và bản chất quy mô sản xuất hàng hóa của trang trại.
  • Về thực tiễn quốc tế, tác giả khảo cứu tài liệu phát triển trang trại gia đình tại Malaixia (nước có 600.000 trang trại gia đình với quy mô bình quân 2 - 3 ha, sản xuất trên 4 triệu tấn dầu cọ, gần 2 triệu tấn cao su đạt kim ngạch 3 tỷ USD), Đài Loan (821.564 trang trại với quy mô 1 - 2 ha trên diện tích canh tác 900.000 ha), Nhật Bản và Pháp.
  • Về thực tiễn trong nước, luận án khảo cứu số liệu phát triển kinh tế trang trại ở miền Bắc (từ 3.200 trang trại năm 1992 lên gần 10.000 trang trại năm 1997, quy mô 8 - 10 ha), vùng miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên (với các điển hình trang trại cao su hàng trăm hécta của ông Nam Nguyên tại Bình Dương, trang trại vịt đàn của ông Nguyễn Văn Thơ tại Bến Cát, ông Trần Viết Nhuận tại Nam Định). Đồng thời, tác giả khảo cứu số liệu lịch sử về đồn điền cao su thời Pháp thuộc vùng Bình Dương - Phước Long (tỷ lệ phu chết năm 1928 là 6%, năm 1959 là 5,2%, tỷ lệ mắc bệnh năm 1937 lên tới 75%).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là việc chuyển tiếp từ lý luận chung sang phân tích thực nghiệm tại địa bàn Ninh Thuận - một tỉnh ven biển cực Nam Trung Bộ mới tái lập năm 1992 với điều kiện tự nhiên khô hạn khắc nghiệt. Luận án đi sâu giải quyết câu hỏi: Trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế trang trại tại địa phương hình thành dựa trên nguồn gốc tích tụ nào, quy mô bao nhiêu là tối ưu, mối quan hệ giữa chủ trại và lao động làm thuê mang bản chất gì, và Nhà nước cần can thiệp bằng những công cụ kinh tế nào để thúc đẩy sản xuất hàng hóa mà không dẫn tới tình trạng bần cùng hóa nông dân nghèo và người dân tộc thiểu số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án tiếp cận từ góc độ Kinh tế chính trị học Mác - Lênin. Tác giả phân tích thuật ngữ trang trại bắt nguồn từ tiếng Pháp (Ferme), tiếng Anh (farm), tiếng Nga (Ферма), chỉ cơ sở sản xuất nông nghiệp. Luận án hệ thống hóa năm hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp trong lịch sử nhân loại gồm: điền trang lớn, nông nghiệp đồn điền, trang trại cộng đồng, nông nghiệp tập thể hóa (nông trang tập thể ở Liên Xô cũ, công xã nhân dân ở Trung Quốc, hợp tác xã ở Việt Nam), và nông trại gia đình.

Trên cơ sở phân tích các quan niệm hiện hành, tác giả đưa ra định nghĩa: "Kinh tế trang trại là một loại hình kinh tế mới được ra đời và phát triển dựa trên cơ sở nền sản xuất hàng hóa phát triển trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp. Quá trình phát triển kinh tế trang trại gắn với quy mô diện tích đất đai hợp lý, có thuê mướn lao động."

Luận án xác lập năm đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại:

  • Mang tính chất sản xuất hàng hóa vượt trội so với kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc;
  • Chủ trang trại đa dạng (hộ nông dân giỏi, cán bộ, viên chức nghỉ hưu);
  • Sử dụng kết hợp lao động gia đình và lao động làm thuê;
  • Phương thức khai thác đất đai thông qua khai hoang phục hóa hoặc thuê khoán ruộng đất;
  • Tích tụ vốn tự có kết hợp vay vốn tín dụng.

Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án là phương pháp định tính kết hợp thống kê mô tả:

  • Phương pháp luận cơ bản: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích các hiện tượng kinh tế trong sự vận động, phát triển và mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất.
  • Phương pháp cụ thể: Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh kinh tế dựa trên số liệu thứ cấp của các cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Ninh Thuận và số liệu sơ cấp thu thập được qua các phiếu điều tra khảo sát trực tiếp tại các chủ trại trên địa bàn bốn huyện, thị xã.
  • Nguồn tư liệu: Văn kiện Đại hội Đảng, các nghị quyết chuyên đề (Chỉ thị 100-CT/TW năm 1981, Nghị quyết 10 Bộ Chính trị năm 1988, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VII năm 1993, dự thảo Nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII); Luật Đất đai năm 1993; số liệu niên giám thống kê và báo cáo ngành nông nghiệp tỉnh Ninh Thuận; kết quả điều tra điển hình 647 cơ sở chăn nuôi gia súc, 15 trang trại trồng mía và 80 cơ sở sản xuất tôm giống trên địa bàn tỉnh đến năm 1997.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại

Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng, nguồn gốc hình thành và các nhân tố chi phối sự phát triển của kinh tế trang trại. Tác giả phân tích sự chuyển biến từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa giản đơn và kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa, khẳng định sự xuất hiện của trang trại tư bản dựa trên quá trình tước đoạt tư liệu sản xuất của nông dân. Trái lại, ở Việt Nam, sự ra đời của kinh tế trang trại trong thời kỳ đổi mới xuất phát từ nhu cầu giải phóng sức sản xuất, phát huy tiềm năng kinh tế hộ tự chủ theo tinh thần Chỉ thị 100 và Nghị quyết 10.

Luận án phân loại trang trại theo ba tiêu chí: theo hình thức tổ chức quản lý (trang trại gia đình, trang trại nhiều hộ gia đình, trang trại nhiều thành phần kinh tế); theo cơ cấu sản xuất kinh doanh (trang trại chuyên doanh, trang trại kinh doanh tổng hợp); và theo quy mô vốn đầu tư.

Tác giả luận giải sáu nhóm nhân tố quyết định sự hình thành và phát triển của kinh tế trang trại:

  • Đất đai: Là tư liệu sản xuất đặc biệt; quá trình phát triển thường trải qua ba giai đoạn: tự cấp tự túc, kinh doanh tổng hợp hàng hóa lớn, và chuyên môn hóa - hợp tác hóa sâu rộng.
  • Lao động: Yếu tố kết hợp với đất đai để tạo ra khối lượng hàng hóa, đặt ra yêu cầu cấp bách về chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người làm thuê.
  • Vốn: Vấn đề bức xúc nhất khi khảo sát cho thấy trên 90% chủ trại thiếu vốn sản xuất và chủ yếu phải dựa vào nguồn vốn tự có.
  • Kỹ thuật: Đòi hỏi trình độ quản lý và kỹ năng chuyên môn cao để hạn chế rủi ro thị trường.
  • Thị trường và dịch vụ: Khâu quyết định đầu ra sản phẩm nhưng các dịch vụ cung ứng tại nông thôn còn mang tính tự phát, thiếu ổn định.
  • Cơ sở hạ tầng nông thôn và hành lang pháp lý: Đòi hỏi hệ thống đường giao thông, lưới điện, thủy lợi và các quy định pháp luật rõ ràng nhằm bảo vệ quyền tự chủ của các chủ thể kinh doanh.

Chương 2: Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở Ninh Thuận

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng tự nhiên, kinh tế - xã hội và số liệu khảo sát thực tế tại tỉnh Ninh Thuận. Tỉnh có diện tích tự nhiên 343.000 ha, trong đó đất nông nghiệp 64.000 ha, đất chưa sử dụng 116.836 ha (gồm 39.000 ha đất bằng và 46.000 ha gò đồi), đất lâm nghiệp 251.217 ha (đất có cây lùm bụi 109.823 ha). Khí hậu địa phương mang tính chất khô nóng điển hình, nhiệt độ bình quân 29°C, số giờ nắng 9 giờ/ngày, lượng mưa chỉ từ 600 - 700 mm/năm, lượng bốc hơi lớn. Dân số toàn tỉnh là 450.000 người gồm các dân tộc Kinh, Chăm, Raglai.

Về chăn nuôi gia súc có sừng (bò, dê, cừu), tác giả phân loại theo ba mức quy mô: hộ chăn nuôi nhỏ (dưới 30 con), trại vừa (30 - 50 con), và trang trại lớn (từ 50 con trở lên, sử dụng lao động làm thuê). Nếu tính quy mô trại bò từ 30 con trở lên và trại dê cừu từ 50 con trở lên, toàn tỉnh có 628 chủ trại. Tuy nhiên, nếu xét theo các tiêu chuẩn kinh tế trang trại thực thụ (tính chuyên môn hóa, tỷ suất hàng hóa, sử dụng lao động thường xuyên), toàn tỉnh có 79 trang trại bò (quy mô từ 100 con trở lên) và 10 trang trại dê cừu (quy mô từ 200 con trở lên). Toàn bộ đàn gia súc của hệ thống trang trại nắm giữ 30.000 con bò (chiếm 47% tổng đàn bò 68.000 con của tỉnh) và 20.000 con dê cừu (chiếm 74% tổng đàn 27.000 con toàn tỉnh).

Dưới đây là bảng tổng hợp số liệu các trại chăn nuôi gia súc có sừng trên địa bàn các huyện, thị xã của tỉnh Ninh Thuận được trích xuất từ văn bản:

Địa bàn khảo sát Loại hình gia súc Quy mô đàn (con) Số lượng trại 1 chủ Số lượng trại nhiều chủ Tổng số cơ sở
Huyện Ninh Phước Bò 30 đến dưới 50 216 50 266
50 đến dưới 100 84 25 109
Từ 100 trở lên 69 4 73
Dê, cừu 50 đến dưới 100 45 12 57
100 đến dưới 200 24 6 30
Từ 200 trở lên 5 - 5
Huyện Ninh Sơn Bò 30 đến dưới 50 6 2 8
50 đến dưới 100 9 7 16
Từ 100 trở lên 6 4 10
Dê, cừu 50 đến dưới 100 8 2 10
100 đến dưới 200 1 1 2
Từ 200 trở lên 3 3 6
Huyện Ninh Hải Bò 30 đến dưới 50 55 4 59
50 đến dưới 100 18 1 19
Từ 100 trở lên 4 - 4
Dê, cừu 50 đến dưới 100 35 1 36
100 đến dưới 200 4 - 4
Từ 200 trở lên 3 - 3
Thị xã Phan Rang Bò, dê, cừu Các quy mô 39 17 56
Toàn tỉnh Ninh Thuận Tổng cộng Tất cả quy mô 640 126 766

Về nguồn gốc xuất thân, có 609 chủ trại xuất thân từ nông thôn (chiếm 94%, gồm 104 hộ đồng bào dân tộc thiểu số), 38 chủ trại cư trú tại thị xã Phan Rang (có 5 hộ là cán bộ công nhân viên chức). Luận án ghi nhận các chủ trang trại lớn tiêu biểu: ông Trần Hán Ba (xã Phước Nam, huyện Ninh Phước) sở hữu 1.000 con bò và 400 con dê cừu, khoán 7 đàn bò cho 7 hộ gia đình chăn dắt với giá công 30.000 đồng/con trưởng thành/năm kết hợp cho người chăn hưởng phân bón, đạt doanh thu bán gia súc 180 triệu đồng trên tổng doanh thu 208 triệu đồng; ông Dương Đình Thể quản lý 130 con bò, 600 con cừu và 200 con dê, đạt thu nhập gia súc 72 triệu đồng; ông Nguyễn Ngọc Hùng quản lý 1.000 con dê và 450 con cừu, đạt doanh thu 181 triệu đồng.

Về cơ sở vật chất, chuồng trại chăn nuôi bò còn rất sơ sài, dùng rào cây rừng quây kín, không mái che chắn mưa nắng, nhốt chung các lứa tuổi dẫn đến tỷ lệ sống của bê sơ sinh thấp; ngược lại, chuồng trại dê cừu được đầu tư bài bản, có phân ô và sàn gỗ. Một số xã thu lệ phí đồng cỏ 5.000 đồng/con bò và 2.500 đồng/con dê cừu nhưng chưa có quy chế quản lý thống nhất. Trên thị trường xuất hiện các chủ trại kiêm thương lái năng động tại thị xã như ông Nguyễn Ngọc Hùng (ứng trước 400 - 450 triệu đồng vốn cho các trại nhỏ để thu gom đưa vào lò mổ TP. Hồ Chí Minh), ông Trung (nuôi 130 bò và buôn bán gần 800 bò giống thu lãi 230 triệu đồng năm 1996), và ông Tuấn (mua bán mổ thịt khoảng 1.000 con bò/năm, cùng ông Hùng thuê đồng cỏ sân bay Thành Sơn làm trạm trung chuyển).

Về trang trại trồng mía và chế biến đường tại huyện Ninh Sơn, niên vụ 1996 - 1997 toàn tỉnh có 1.400 ha mía. Luận án khảo sát chi tiết 15 trang trại mía kết hợp lò đường thủ công tại các xã Tân Sơn, Quảng Sơn, Lâm Sơn. Các chủ trại tích tụ đất bằng hình thức khai hoang phục hóa hoặc thuê đất của nông dân trong thời hạn 3 - 5 năm (giá thuê từ 150.000 - 200.000 đồng/sào). Bình quân 1 ha mía sử dụng 1,85 lao động thường xuyên, thời vụ thu hoạch huy động 20 - 30 lao động. Tiền công chăm sóc mía là 13.000 - 15.000 đồng/ngày, công thu hoạch 16.000 - 17.000 đồng/ngày, thợ nấu đường 20.000 - 25.000 đồng/ngày.

Bảng tổng hợp diện tích, sản lượng của 15 trang trại trồng mía huyện Ninh Sơn:

STT Chủ trang trại Địa bàn (xã) Diện tích mía (ha) Sản lượng mía (tấn) Sản lượng đường (tấn) Chủng loại đường thành phẩm
1 Nguyễn Văn Lãng Tân Sơn 20 1.000 138 Đường tinh
2 Lương Tấn Sang Tân Sơn 15 900 108 Đường tinh
3 Đinh Văn Hùng Tân Sơn 10 600 60 Đường tinh
4 Trương Thị Trinh Quảng Sơn 10 600 54 Đường tinh
5 Hồ Quang Quảng Sơn 10 650 40 Đường tinh
6 Nguyễn Thị Mai Lâm Sơn 10 650 40 Đường tán
7 Nguyễn Thị Thu Hương Lâm Sơn 11 780 58 Đường tán
8 Nguyễn Xích Lâm Sơn 10 500 35 Đường tán
9 Hà Thị Lệ Phương Lâm Sơn 8 520 65 Đường tinh
10 Nguyễn Ngọc Long Tân Sơn 8 500 50 Đường tinh
11 Trần Như Sơn Tân Sơn 6 500 22 Đường tán
12 Tạ Hải Tân Sơn 5 300 75 Đường tán
13 Ngô Nhàn Quảng Sơn 5 300 75 Đường tán
14 Trương Việt Tiến Lâm Sơn 5 350 61 Đường tán
15 Xà Vạy Thoáng Tân Sơn 5 300 60 Đường tinh
Tổng 15 trang trại Huyện Ninh Sơn 138 8.450 937 571 tấn tinh; 366 tấn tán

Trong số đó, trang trại bà Nguyễn Thị Thu Hương đạt sản lượng 780 tấn mía (năng suất nơi tưới đạt 80 tấn/ha, không tưới đạt 60 tấn/ha), chế biến 62 tấn đường tán trị giá 249 triệu đồng, kết hợp 1,9 ha lúa thu 42,7 triệu đồng, đạt tổng thu nhập 291 triệu đồng. Trang trại ông Nguyễn Văn Lãng chế biến 138 tấn đường tinh trị giá 690 triệu đồng. Tác giả đánh giá quy mô đất đai dưới 30 ha tại Ninh Sơn là hợp lý, và hình thức thuê đất ưu việt hơn mua đứt vì tránh việc nông dân nghèo bị mất hẳn tư liệu sản xuất.

Về trang trại sản xuất tôm giống, từ cơ sở liên doanh Bình Sơn hoạt động kém hiệu quả thời bao cấp, ngành này đã phát triển nhanh nhờ liên kết kỹ thuật với Trường Đại học Thủy sản. Năm 1992 toàn tỉnh mới có 14 trại, đến năm 1997 đã tăng lên 80 trại tôm giống. Phân bố tập trung tại dải ven biển xã Văn Hải và Mỹ Hải (thị xã Phan Rang: 48 trại), xã Khánh Hải và Tri Hải (huyện Ninh Hải: 30 trại), và xã Phước Dinh (huyện Ninh Phước: 2 trại). Điển hình trang trại ông Nguyễn Văn Hùng có 3 sáng lập viên, vốn đầu tư 320 triệu đồng, thuê 160 lao động (trong đó có 9 kỹ sư thủy sản), đạt lợi nhuận năm 1996 gần 1 tỷ đồng.

Chương 3: Các giải pháp hình thành và phát triển kinh tế trang trại theo định hướng XHCN ở Ninh Thuận

Chương 3 đề xuất hệ thống quan điểm định hướng, chương trình hỗ trợ và các kiến nghị cụ thể:

  • Về định hướng: Phát triển kinh tế trang trại nhiều thành phần nhằm khai thác tiềm năng đất đai, giải quyết việc làm, phân công lại lao động nông thôn, gắn phát triển sản xuất hàng hóa với mục tiêu công bằng xã hội và hạn chế phân hóa giàu nghèo cực đoan.
  • Bốn chương trình hỗ trợ của Nhà nước:
    1. Chương trình hỗ trợ về vốn: Ngân hàng Nông nghiệp cần mở rộng hạn mức cho vay trung và dài hạn, đơn giản hóa thủ tục thế chấp tài sản, cho phép thế chấp bằng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản hình thành trên đất trang trại.
    2. Chương trình đầu tư khoa học công nghệ: Đẩy mạnh mạng lưới khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; chuyển giao kỹ thuật gieo ươm tôm giống, cải tạo giống bò thịt, giống mía cao sản và kỹ thuật sơ chế đường.
    3. Chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng: Nhà nước đầu tư hệ thống kênh mương thủy lợi, đường giao thông nông thôn kết nối vùng trang trại gò đồi, kéo lưới điện phục vụ bơm tưới và chế biến nông sản; quy hoạch phân vùng bãi chăn thả công cộng.
    4. Chương trình đào tạo nhân lực: Tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức hạch toán kinh doanh, quản lý kinh tế và pháp luật cho chủ trang trại; đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
  • Các nhóm kiến nghị cụ thể: Xây dựng chiến lược phát triển dài hạn; lập quy hoạch sử dụng đất đai chi tiết cho từng tiểu vùng sinh thái; đối với chăn nuôi cần hỗ trợ thú y phòng dịch và cải tạo giống; đối với mía đường cần chuyển đổi dần các lò đường thủ công sang nhà máy công nghiệp gắn vùng nguyên liệu; đối với thủy sản cần kiểm soát chặt chẽ chất lượng nguồn nước ven bờ và tiêu chuẩn tôm giống.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định ba đóng góp khoa học chính:

  • Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ bản chất kinh tế chính trị của kinh tế trang trại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam; phân định ranh giới bản chất giữa kinh tế trang trại (sản xuất hàng hóa lớn, có thuê mướn lao động) với kinh tế hộ tiểu nông (tự cấp tự túc) và kinh tế đồn điền tư bản bóc lột; chỉ rõ tính quy luật của sự tích tụ ruộng đất và vốn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp.
  • Về mặt thực tiễn: Khảo sát, đo lường và hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh đầu tiên về hệ thống kinh tế trang trại tại tỉnh Ninh Thuận sau tái lập tỉnh; cung cấp hệ số liệu thực nghiệm chi tiết về 647 trại chăn nuôi gia súc, 15 trang trại trồng mía chế biến đường và 80 trang trại tôm giống; phân tích rõ cơ cấu thu nhập, thực trạng quan hệ lao động, tiền công và mức độ tích tụ đất đai tại địa phương.
  • Về mặt giải pháp: Xây dựng khung bốn chương trình hỗ trợ vĩ mô của Nhà nước (vốn, khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng, đào tạo nhân lực) và đề xuất hệ thống chính sách quản lý ruộng đất, lệ phí đồng cỏ, thú y nhằm định hướng cho kinh tế trang trại phát triển lành mạnh, hài hòa lợi ích giữa chủ trại và người lao động.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án chỉ ra các điểm nghẽn từ chính nội dung văn bản:

  • Dữ liệu khảo sát sơ cấp tập trung chủ yếu vào các năm 1996 - 1997, phản ánh giai đoạn sơ khởi của kinh tế trang trại tại Ninh Thuận nên nhiều mô hình chưa đi vào trạng thái vận hành ổn định.
  • Lĩnh vực trang trại nuôi tôm thịt và trang trại nông lâm kết hợp dưới tán rừng mới bước đầu hình thành, văn bản chưa thể thu thập được chuỗi số liệu định lượng hoàn chỉnh như đối với chăn nuôi bò hay mía đường.
  • Tác giả chưa lượng hóa được các tác động tiêu cực về mặt sinh thái như hiện tượng suy thoái đồng cỏ do chăn thả quá tải và nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm vùng nuôi tôm giống ven biển.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ phạm vi đề tài bao gồm việc theo dõi dài hạn biến động tích tụ đất đai và việc làm của đồng bào dân tộc thiểu số khi chuyển nhượng hoặc cho thuê đất; nghiên cứu xây dựng các hợp tác xã kiểu mới nhằm liên kết các chủ trang trại nhỏ với các doanh nghiệp chế biến công nghiệp lớn; và đánh giá thị trường xuất khẩu chính ngạch cho các sản phẩm thế mạnh như tôm giống và bò thịt.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách tại Ninh Thuận cũng như các tỉnh Duyên hải miền Trung: Luận án cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng quy hoạch bãi chăn thả gia súc, thiết lập chính sách tín dụng nông nghiệp, và ban hành các quy chế quản lý hợp đồng lao động làm thuê tại khu vực kinh tế nông thôn.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế nông nghiệp: Công trình cung cấp phương pháp tiếp cận kinh tế chính trị Mác - Lênin trong việc nhận diện và phân tích một loại hình kinh tế quá độ, kết hợp giữa lý luận hình thái kinh tế - xã hội với các biểu bảng số liệu khảo sát thực địa.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Toàn bộ Chương 2 với hệ thống số liệu điều tra nguyên thủy về quy mô đàn, cơ cấu chi phí, mức khoán công lao động chăn dắt và mô hình tích tụ đất trồng mía tại huyện Ninh Sơn.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tiêu chí cụ thể nào trong luận án phân biệt một cơ sở chăn nuôi mang dấu ấn kinh tế trang trại với một hộ chăn nuôi thông thường tại Ninh Thuận? Cơ sở được coi là mang dấu ấn kinh tế trang trại rõ nét khi đạt quy mô tập trung từ 100 con bò hoặc từ 200 con dê cừu trở lên; sản xuất mang tính chuyên môn hóa cao, sản phẩm bán ra thị trường chiếm tỷ trọng từ 30% đến 50% lượng gia súc tăng đàn hàng năm; nguồn thu nhập từ chăn nuôi chiếm từ 80% đến 90% tổng thu nhập gia đình; và bắt buộc phải thuê mướn lao động chăn dắt thường xuyên thay vì chỉ dựa vào lao động trong hộ.

  2. Tổng đàn gia súc do các trang trại quản lý chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong cơ cấu chăn nuôi của toàn tỉnh Ninh Thuận thời điểm khảo sát? Các trang trại và trại chăn nuôi nắm giữ 30.000 con bò trên tổng số 68.000 con bò của toàn tỉnh (chiếm tỷ lệ 47%) và 20.000 con dê cừu trên tổng đàn 27.000 con của toàn tỉnh (chiếm tỷ lệ 74%).

  3. Phương thức tích tụ đất đai và sử dụng lao động của 15 trang trại trồng mía tại huyện Ninh Sơn diễn ra như thế nào? Các chủ trang trại tích tụ ruộng đất thông qua khai hoang phục hóa hoặc thuê đất của nông dân khác trong thời hạn từ 3 đến 5 năm với quy mô phổ biến từ 5 đến 20 ha/trại. Nhu cầu lao động bình quân là 1,85 lao động/ha, tăng lên 20 - 30 người vào mùa thu hoạch. Tiền công lao động được trả theo ngày: chăm sóc từ 13.000 - 15.000 đồng/ngày, thu hoạch từ 16.000 - 17.000 đồng/ngày, và thợ nấu đường từ 20.000 - 25.000 đồng/ngày.

  4. Tại sao luận án đánh giá hình thức thuê đất để lập trang trại mía tại miền núi Ninh Sơn tiến bộ hơn hình thức mua đứt đất? Hình thức thuê đất cho phép chủ trang trại tập trung được diện tích canh tác lớn mà không làm nông dân nghèo (đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số) bị mất hẳn tư liệu sản xuất. Sau khi hết thời hạn hợp đồng, người nông dân có quyền thu hồi lại đất đã được cải tạo để tiếp tục sản xuất, ngăn ngừa nguy cơ vô sản hóa nông thôn.

  5. Ngành sản xuất tôm giống tại Ninh Thuận có bước chuyển biến quy mô như thế nào trong giai đoạn 1992 - 1997? Nhờ tiếp thu chuyển giao kỹ thuật từ Trường Đại học Thủy sản và chuyển đổi sang cơ chế thị trường, số lượng trại tôm giống toàn tỉnh đã tăng trưởng từ 14 trại năm 1992 lên 80 trại năm 1997, tập trung chủ yếu tại bờ biển xã Văn Hải, Mỹ Hải (thị xã Phan Rang với 48 trại) và Khánh Hải, Tri Hải (huyện Ninh Hải với 30 trại).

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh là công trình nghiên cứu kinh tế chính trị chuyên sâu về sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại tại tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới. Bằng việc kết hợp phương pháp luận Mác - Lênin với các số liệu điều tra thực địa cụ thể, tác giả đã làm rõ bản chất kinh tế hàng hóa, quy mô hợp lý và các quan hệ kinh tế - xã hội phát sinh trong các mô hình trang trại chăn nuôi gia súc có sừng, mía đường và tôm giống. Hệ thống giải pháp bốn chương trình hỗ trợ của Nhà nước được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực vào việc định hướng kinh tế trang trại phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa tại địa phương.