Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Một số khái niệm Kinh tế thế giới luôn có sự biến động và tăng trưởng không ngừng ở tất cả các ngành và lãnh thổ kinh tế. Vì vậy, khi nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế cần quan tâm đến tốc độ tăng trưởng, cơ cấu kinh tế, các nguồn lực phát triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên của tổng thu nhập quốc gia (GNI) hay mức tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người (GNI/người, GDP/người) [4] Tăng trưởng kinh tế là mức tăng của cải vật chất trong một thời kỳ nhất định.
Ở cấp quốc gia, cấp tỉnh, để đo lường tăng trưởng kinh tế người ta thường dùng hai chỉ số chủ yếu: phần tăng, giảm quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, quy mô và tốc độ tăng trưởng GTSX. Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế, do đó tăng trưởng kinh tế chưa phản ánh đầy đủ sự biến đổi của cơ cấu KT-XH, tăng trưởng có thể cao nhưng chất lượng cuộc sống không cao. Cùng với đó, môi trường có thể bị hủy hoại, tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, chênh lệch giàu nghèo, chênh lệch nông thôn và thành thị có thể tăng cao, bất bình đẳng xã hội ngày càng lớn. Tuy nhiên, các chỉ tiêu đo lường mức tăng trường kinh tế vẫn được sử dụng làm thước đo trình độ phát triển kinh tế một cách cụ thể và trở thành mục tiêu phấn đấu, tiêu chí của một vùng, địa phương.
Đây là thước đo để người dân đánh giá hiệu quả điều hành đất nước của Chính phủ, của người lãnh đạo. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phát triển kinh tế Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản xuất và sự tiến bộ về cơ cấu xã hội. Nói cách khác, phát triển kinh tế là sự vận động theo chiều hướng tiến lên, trong đó có sự thay đổi về lượng và chất của sự vật hiện tượng trong thời gian, không gian cụ thể.
[4] Phát triển kinh tế là sự gia tăng quy mô nền kinh tế, trong đó có sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ và đảm bảo mọi người đều được bình đẳng về cơ hội để tham gia vào quá trình phát triển, được sẻ chia, hưởng thụ thành quả của phát triển. Phát triển kinh tế bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỉ trọng của khu vực nông - lâm - ngư nghiệp, tăng tỉ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ). Đây là quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế (kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế) trong một thời gian nhất định. Chuyể n dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch CCKT là sự thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển.
Thực chất, đó là sự điều chỉnh cơ cấu trên 3 mặt (ngành, thành phần, lãnh thổ) nhằm hướng sự phát triển của nền KT vào các chiến lược phát triển KT-XH đã được đề ra cho trong thời kỳ cụ thể. Dưới góc độ địa lí học, quá trình này được thể hiện ở 3 khía cạnh sau: ngành kinh tế, thành phần kinh tế, sự phân hóa lãnh thổ kinh tê [8] Cơ cấ u ngành kinh tế là một bộ phận cấu thành cơ bản của nền kinh tế quốc dân. Đây là tổng hợp các ngành của nền KT được sắp xếp theo một tương quan tỉ lệ nhất định. Cơ cấu ngành phản ánh thể hiện số lượng, tỷ trọng của các ngành tạo nên nền kinh tế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cơ cấu ngành phản ánh trình độ phân công lao động xã hội của nền KT nói chung và trình độ phát triển của sức sản xuất nói riêng. Có nhiều ngành tạo nên nền kinh tế và được chia thành 3 khu vực: Khu vực 1 (nông - lâm - ngư nghiệp). Đối với nhiều nước khác là ngành trực tiếp khai thác TNTN; Khu vực 2 (công nghiệp - xây dựng). Đối với nhiều nước khác là các ngành chế biến; Khu vực 3 (dịch vụ).
Như vậy, cơ cấu ngành là tương quan về tỉ trọng giữa 3 khu vực tạo nên nền kinh tế của một quốc gia và trong bản thân từng ngành cũng tồn tại cơ cấu riêng của nó. Dưới góc độ ngành, cơ cấu được xem xét theo ba mặt chủ yếu: Theo 3 khu vực I, II, III (Nông, lâm, ngư nghiệp; Công nghiệp - xây dựng; Dịch vụ); Nhóm ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp; Nhóm ngành sản xuất sản phẩm vật chất và sản xuất sản phẩm dịch vụ. Trước tiên, cơ cấu ngành kinh tế được xem xét theo 03 khu vực hoạt động kinh tế. (i) Khu vực I (Nông, lâm, ngư nghiệp): Khai thác trực tiếp tài nguyên thiên nhiên (đất, rừng, biển…) và xuấ t hiêṇ ở thời kì đầu của các cộng đồng khi mới thành lập; (ii) Khu vực II (Công nghiệp - xây dựng): Chế biến các sản phảm từ TNTN và tạo ra sản phẩm mới không có trong tự nhiên và xuất hiêṇ ở thời kì cách mạng công nghiệp và công nghiệp hóa; (iii) Khu vực III (Dịch vụ): Nhu cầu về dịch vụ, sản xuất, tiêu dùng, quản lý hành chính, … để đẩy mạnh sản xuất, đáp ứng cho con người các dịch vụ thích ứng để cải thiện môi trường số ng và xuấ t hiện ở thời kì hậu công nghiêp.
̣ Cơ cấu giữa các nhóm ngành lớn phản ánh các tương quan tỉ lệ, vai trò, vị trí của các nhóm ngành và mối liên hệ giữa chúng trong nền kinh tế; phản ánh trình độ phân công lao động xã hội theo ngành ở cấp cao nhất và trình độ phát triển của sức sản xuất. Trong nội bộ cơ cấu ngành nông nghiệp, thường xem xét các bộ phận chủ yếu như trồng trọt, chăn nuôi với các sản phẩm chủ lực là cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây rau thực phẩm, các con vật nuôi như bò, lơ ̣n, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 11 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cừu, gia cầm, … Tỉ lệ sản phẩm nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao càng nhiều càng tốt. Trong nội bộ cơ cấu ngành lâm nghiệp, thường xem xét các bộ phận chủ yếu như khai thác rừng, trồng rừng (rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng, rừng nguyên liệu, rừng gỗ trụ mỏ, …). Tỉ lệ đóng góp của lâm nghiệp trong GTSX của khu vực I hoặc trong GDP quốc gia là chỉ tiêu quan trọng.
Còn trong nội bộ cơ cấ u ngành ngư nghiê ̣p, với các bô ̣ phâ ̣n chủ yế u như ̣ vu ̣. Tỉ lê ̣ đóng góp của bô ̣ phâ ̣n nuôi trồ ng trong khai thác, nuôi trồ ng và dich toàn bô ̣ GTSX ngư nghiêp̣ và tỉ lê ̣ đóng góp của ngư nghiêp̣ trong GTSX toàn khu vực I hoă ̣c GDP quố c gia là những chỉ tiêu quan tro ̣ng. Đương nhiên, sản phẩ m thủy sản sa ̣ch và công nghê ̣ cao càng nhiề u càng tố t. ̣ nội bộ cơ cấ u ngành công nghiêp̣ thường đươ ̣c Khác với nông nghiêp, xem xét các thành phầ n như nhóm sản xuấ t vâ ̣t liê ̣u; nhóm sản xuấ t sản phẩ m hóa chất phân bón; nhóm sản xuất sản phẩm cơ khí; nhóm sản xuất năng lươ ̣ng; nhóm sản xuất sản phẩ m điê ̣n tử tin học.
Dù thế nào thì cũng cần xem xét ngành công nghiệp chế ta ̣o; các ngành công nghiêp̣ bổ trơ ̣; các ngành công nghiệp chế biế n nông, lâm, thủy sản để thấ y rõ hơn khả năng tăng giá tri ̣ quố c gia trong các sản phẩm của đất nước. Cơ cấ u nô ̣i bô ̣ ngành dịch vụ gồm những ngành sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ không mang tính vật chất. Đối với mọi nền kinh tế, nhóm các ngành dịch vụ càng ngày càng có vị trí to lớn, đặc biệt khi xã hội khá giả, thu nhập và tiêu dùng của dân cư ở mức cao. Ba nhóm ngành trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo một tương quan tỉ lệ, trong đó quan hệ tỉ lệ giữa các ngành sản xuất và các ngành dịch vụ có ý nghĩa then chốt.
Các nhóm ngành chuyển dịch cho nhau theo nguyên tác từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, từ đơn giản đến phức tạp, từ trình độ thấp nên trình độ cao. Ngày nay, trong cơ cấu ngành kinh tế chúng ta cần phải xem xét thêm tỉ trọng (hay mức đóng góp) của các sản phẩm chủ lực cho nền kinh tế cũng như của các sản phẩm chứa hàm lượng công nghệ cao, hàm lượng chất xám cao. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 12 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai, căn cứ vào phương thức và công nghệ tạo ra sản phẩm cơ cấu ngành kinh tế được xem xét theo 02 nhóm ngành nông nghiê ̣p và phi nông nghiê ̣p. Để xác định một quốc gia đã thuộc vào nhóm các nước phát triển hay chưa, người ta thường phân tích cơ cấu này.
Khi nhóm ngành phi nông nghiệp (công nghiệp, xây dựng, dịch vụ) càng phát triển và chiếm tỉ trọng càng lớn thì nền kinh tế phát triển ở trình độ cao. Và ngươ ̣c la ̣i, khi nhóm ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng cao điề u đó chứng tỏ công nghệ và trình độ của ngành kinh tế không cao. Theo các chuyên gia kinh tế trên thế giới, một quốc gia có tỉ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm 85% tổng lao động xã hội và tạo ra khoảng trên 80% GDP thì được coi là quốc gia phát triển. Tuy nhiên, cần chú ý là cơ cấu ngành sẽ minh chứng cho trình độ phát triển công nghiệp hóa và một phần nào nói nên trình độ hiện đại hóa, chứ không nói lên hoàn toàn trình độ hiên đại hóa.
Thứ ba, cơ cấu ngành kinh tế được xem xét theo hai nhóm ngành sản xuất, sản phẩm vật chât và sản phẩm dịch vụ. Xét trên góc đô ̣ này để thấy mức độ hài hòa giữa hai nhóm ngành, làm cho nền KT có sức mạnh tổng hợp, phát triển cân đối các mặt, giữa đầu vào và đầu ra, dịch vụ phát triển làm “trơn tru” các quá trình sản xuất kinh doanh.