Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới nói riêng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Trong các nghiên cứu đó, lý thuyết về phát triển kinh tế như khái niệm, đặc điểm, vai trò phát triển kinh tế của mỗi quốc gia được trình bày khá chi tiết. Bên cạnh đó, bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, các tác giả đã phân tích về nội dung phát triển kinh tế gắn với bối cảnh xây dựng nông thôn mới ở mỗi không gian nghiên cứu khác nhau, cụ thể như sau: Frans Ellits (1994) [88] đã cho rằng đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển vùng nông thôn, là động lực để huy động sự tham gia đóng góp và thúc đẩy ý chí phát triển kinh tế của mỗi gia đình cũng như tạo động lực phát triển vùng nông thôn.
Để sự hỗ trợ của Nhà nước đạt hiệu quả thì cần phải có một quy trình cấp vốn hợp lý và được quản lý chặt chẽ. Ngoài ra, nghiên cứu đã nêu lên những vấn đề cơ bản của chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển thông qua việc nghiên cứu lý thuyết, khảo cứu thực tiễn ở nhiều quốc gia Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh, đề cập những vấn đề về chính sách phát triển vùng, chính sách hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, chính sách thương mại nông sản, những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa. Điều đặc biệt đáng lưu ý là công trình này đã xem xét nền nông nghiệp của các nước đang phát triển trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn liền với phát triển thương mại nông sản trên thế giới; đồng thời, nêu lên mô hình thành công, thất bại trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân.tria Kerrkvliet, Jamesscott (2000) [9] đã sưu tầm, giới thiệu và nghiên cứu về vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thế giới và những kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng truyền thống ở Việt Nam. Những điểm đáng chú ý của công trình này có giá trị tham khảo cho việc giải quyết những vấn đề của chính sách phát triển nông thôn nước ta hiện nay như: 8 tương lai của các trang trại nhỏ, nông dân với khoa học, hệ tư tưởng của nông dân, các hình thức sở hữu đất đai, những mô hình tiến hóa nông thôn ở các nước nông nghiệp trồng lúa.
Hanho Kim, Yong-Kee Lee (2004) [90] khi phân tích chính sách nông nghiệp qua các thời kỳ ở Hàn Quốc và Nhật Bản đã cho rằng cả hai nước này đều đã trải qua thời kỳ dài bảo hộ nông nghiệp và an ninh lương thực, sau đó là chuyển đổi mạnh mẽ hướng tới thị trường nhằm tăng năng suất lao động và tính cạnh tranh của nông nghiệp trong nước, đồng thời phát triển khu vực nông thôn không còn chênh lệch quá xa so với thành thị. Trong cả hai thời kỳ này, vấn đề đầu tư các nguồn lực và tạo cơ chế quản lý các nguồn lực có ý nghĩa hết sức quan trọng để tạo động lực cho sự phát triển của khu vực nông thôn. OECD (2006) [93] đã đưa ra mô hình nông thôn mới thay thế cho các mô hình trước đó tức là dựa trên việc tiếp cận đa ngành, xóa bỏ những trợ cấp của chính phủ đối với khu vực nông thôn, tăng đầu tư nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các trang trại sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và đa dạng hóa kinh tế khu vực nông thôn. Phát triển kinh tế được coi là yếu tố chính quyết định sự phát triển khu vực nông thôn.
Cùng với đó, yếu tố về vị trí địa lý từng khu vực khác nhau cũng sẽ tác động đến sự phát triển kinh tế nông thôn khác nhau. Daphne Meredith, et, al (2016) [86] cho rằng phát triển kinh tế nông thôn là chủ đề thu hút sự quan tâm của cả các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách. Theo đó, ba khía cạnh chính thúc đẩy sự thay đổi này bao gồm đô thị hóa, sự thay đổi cấu trúc trong nền kinh tế và sự trỗi dậy, sụp đổ của chủ nghĩa Keynes hoặc trạng thái phúc lợi. Trong đó, khu vực tư nhân tập trung vào sản xuất còn khu vực nhà nước đóng vai trò thiết lập khung khổ chính sách (chính sách tài chính, tiền tệ, đầu tư, thuế, vận tải, hạ tầng…) nhằm tạo động lực khuyến khích khu vực tư nhân phát triển.
Hơn nữa, nghiên cứu chỉ ra vai trò và xu hướng trong quản lý phát triển kinh tế khu vực nông thôn. Qua đó, nhấn mạnh tầm quan trọng của chính quyền cấp 9 tỉnh, cấp huyện thông qua việc trao quyền để họ chủ động trong việc xây dựng và triển khai các chính sách. Như vậy, thực trạng và khó khăn xuất phát từ phía điều kiện và người dân sẽ được giải quyết triệt để hơn so với trước đây. Những công trình trên đây đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữ liệu rất quan trọng cho việc xây dựng chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân trong thời kỳ mới ở nước ta.
Nghiên cứu trong nước Trong những năm qua, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới. Qua đó, các tác giả đã luận giải về nội hàm của nông thôn mới cũng như mối quan hệ giữa phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới ở các địa phương trong cả nước. Bên cạnh đó, với phương pháp nghiên cứu khác nhau, các công trình đã tập trung phân tích về nội dung, đồng thời cũng chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương, cụ thể như sau: Dự án MISPA (2006) (Dịch giả Cù Ngọc Hưởng) [34] đã nghiên cứu các vấn đề về xây dựng nông thôn mới XHCN ở Trung Quốc dựa trên nhiều khía cạnh, từ sự hình thành khái niệm, bối cảnh, nội hàm cho đến ý nghĩa thực hiện của sự nghiệp xây dựng nông thôn mới XHCN. Công trình đã tổng hợp ý kiến đa chiều của các học giả trong nước về những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu như hệ thống lý luận xây dựng NTM XHCN; hệ thống chỉ tiêu đánh giá quá trình xây dựng NTM XHCN và lựa chọn các chỉ tiêu cho từng khu vực; thể chế quản lý, cơ chế trao vốn, các chỉ tiêu đánh giá lợi ích kinh tế, cơ chế giám sát và cơ chế đảm bảo của sự nghiệp xây dựng NTM.
Nhìn chung, kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo hữu ích khi tiếp cận đến kinh nghiệm của các quốc gia trong quá trình xây dựng NTM. Nguyễn Hữu Tập (2010) [56] trong một nghiên cứu của mình đã cho rằng KTNT là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, có vai trò quan trọng hàng đầu đảm bảo duy trì sự sống của xã hội, sự ổn định và phát triển của đất nước trong mọi thời kỳ lịch sử. Nghiên cứu đã tập trung phân tích chi tiết về thực trạng phát triển kinh tế và tác động của nó đến xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân của cả nước dựa trên các khía cạnh về phát triển nền nông nghiệp toàn diện, phát triển 10 mạnh các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, kết cấu hạ tầng, thương nghiệp, dịch vụ gắn theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái. Từ đó, để đẩy nhanh phát triển KTNT kết hợp với củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, nghiên cứu đã xây dựng và thực hiện đồng bộ 6 giải pháp chiến lược, bao gồm thực hiện tốt công tác quy hoạch phát triển KTNT; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu KTNT theo hướng CNH, HĐH; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ tạo đột phá trong phát triển KTNT; tăng cường công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường trong quá trình phát triển KTNT; xác lập đồng bộ các chính sách, cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KTNT; phát huy vai trò của hệ thống chính trị trong quá trình phát triển KTNT.
Quá trình thực hiện các giải pháp trên phải được gắn kết chặt chẽ với xây dựng TTQP trong từng nội dung, từng bước và suốt cả quá trình, làm cho mỗi bước phát triển của KTNT phải đi liền với tăng cường được tiềm lực và thế trận của nền quốc phòng toàn dân. Nguyễn Thành Lợi (2012) [44] cho rằng Nhật Bản đã rất sáng tạo trong quá trình phát triển nông thôn khi xác định nhiệm vụ trọng tâm theo từng giai đoạn: Trong giai đoạn đầu, Nhà nước tăng cường nguồn vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường các khoản cho vay từ các quỹ tín dụng nông nghiệp của Chính phủ và các phương thức hỗ trợ đặc biệt. Giai đoạn hai, chính sách tập trung vào đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời sống của người dân, thu hẹp khoảng cách thành thị và nông thôn; Giai đoạn 3 hướng tới việc lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển. Yếu tố thành công chủ yếu của phong trào là nhận biết những nguồn lực chưa được sử dụng tại địa phương trước khi vận dụng nguồn lực một cách sáng tạo để cung cấp trên thị trường.
Lê Thế Cương (2013) [17] đã phân tích những nội dung mấu chốt từ thực tiễn con đường “hiện đại hóa nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc”, trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm đối với xây dựng nông thôn ở nước ta.